Lương Hoàng Sám - Phần 6

(Trang 210)

Quyển Thứ Tư
Chương Thứ Bảy
Nói Rõ Quả Báo
(Tiếp Theo)

Ngày nay đại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng lại phải chí thành đảnh lễ, nhất tâm lắng nghe.
Lúc bấy giờ, Phật ở thành Vương Xá, trong vườn trúc Ca Lan Đà, ngài Mục Kiền Liên từ thiền định đứng dậy đi dạo trên bờ sông Hằng thấy các Ngạ quỷ chịu tội không đồng nhau.
Khi ấy các Ngạ quỷ đồng sinh lòng cung kính đến hỏi ngài Mục Liên về nhân duyên đời trước. Một Ngạ quỷ hỏi rằng: “Tôi một đời lại đây, thường bị đói khát, muốn vào nhà xí, lấy phẩn mà ăn; trên nhà xí đã có con đại lực quỷ lấy gậy đánh tôi; tôi không đến gần nhà xí được. Vì cớ gì mà tôi mắc phải tội ấy?”
Ngài Mục Liên đáp rằng: “Đời trước lúc làm người, ngươi làm chủ chùa, có khách Tỳ kheo đến xin ăn. Ngươi keo kiết không đãi

(Trang 211)

khách ăn. Chờ khách đi rồi ngươi mới cho các thầy thường ở trong chùa ăn.
Vì ngươi vô đạo, tham tiếc của chúng; do nhân duyên ấy nên mắc phải tội như vậy. Đó là hoa báo, quả báo sẽ ở địa ngục”.
- Lại có một Ngạ quỷ hỏi ngài Mục Liên rằng: “Tôi một đời lại đây, trên vai có cái bình đồng lớn, đựng đầy nước sôi. Tôi tự lấy gáo múc xối từ trên đầu xuống, đau khổ vô cùng, không thể chịu được. Tôi vì tội gì mà phải như thế?”
Ngài Mục Liên đáp rằng: “Lúc làm người, ngươi làm Duy na trong chùa, xem việc trong đại chúng. Có một bình sữa, ngươi giấu chỗ kín, đúng giờ không đem chia cho chúng, đợi khách đi rồi, mới đem chia cho các người trong chùa. Sữa là vật chiêu đề, thuộc của chúng Tăng trong mười phương, mọi người đều có phần; vì ngươi vô đạo, tham tiếc của chúng. Do nhân duyên ấy, nên mắc phải tội như vậy. Đó là hoa báo, quả báo sẽ ở địa ngục”.
- Lại có một Ngạ quỷ hỏi ngài Mục Liên rằng: “Tôi một đời trở lại đây, thường nuốt những hoàn sắt nóng. Vì những tội gì mà phải như vậy?”

(Trang 212)

Ngài Mục Liên đáp rằng: “Lúc làm người, ngươi làm một vị Sa di nhỏ, lấy nước trong sạch quấy đường phèn cho chúng. Đường phèn cứng rắn, ngươi sinh tâm trộm cắp, đập nhỏ lấy chút ít. Đại chúng chưa uống, ngươi đã uống trộm trước một hớp. Do vì nhân duyên ấy nên mắc phải tội như vậy. Đó là hoa báo, quả báo sẽ ở địa ngục”.
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng nghe những việc ngài Mục Liên đã nghe đã thấy, rất đáng sợ hãi.
Chúng con có thể làm những tội ấy. Vì vô minh ngăn che chúng con không tự nhớ biết. Giả sử như chúng con đã tạo vô lượng tội nghiệp như vậy, đời sau quyết phải thọ lãnh quả báo đau khổ ấy. Vậy nên bây giờ phải chí tâm tha thiết, đầu thành đảnh lễ hổ thẹn cầu xin sám hối. Nguyện trừ diệt sạch những tội lỗi ấy và nguyện xin sám hối thế cho hết thảy Ngạ quỷ khắp mười phương tận hư không giới.
Lại nguyện xin sám hối thế cho các cha mẹ và các sư trưởng, nguyện xin sám hối thế cho các bậc đồng đàn tôn chứng, thượng trung hạ tòa.

(Trang 213)

Nguyện xin sám hối thế cho tất cả thiện ác tri thức, rộng ra cho đến khắp cả mười phương, tận hư không giới, vô cùng vô tận hết thảy chúng sanh, trong tứ sinh lục đạo.
Những tội đã làm, nhân nay sám hối mà được trừ diệt. Những tội chưa làm thề không dám làm.
Nguyện xin mười phương chư Phật chứng biết cho chúng con.

Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Câu Lưu Tôn Phật.
Nam mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật.
Nam mô Ca Diếp Phật.
Nam mô Sư Tử Phật.
Nam mô Minh Viêm Phật.
Nam mô Mâu Ni Phật.
Nam mô Diệu Hoa Phật.
Nam mô Hoa Thị Phật.
Nam mô Thiện Túc Phật.
Nam mô Đạo Sư Phật.
Nam mô Đại Tý Phật.
Nam mô Đại Lực Phật.
Nam mô Túc Vương Phật.
Nam mô Tu Dược Phật.

(Trang 214)
 
Nam mô Danh Tướng Phật.
Nam mô Đại Minh Phật.
Nam mô Viêm Kiên Phật.
Nam mô Chiếu Diệu Phật.
Nam mô Nhật Tạng Phật.
Nam mô Nguyệt Thị Phật.
Nam mô Chúng Viêm Phật.
Nam mô Thiện Minh Phật.
Nam mô Vô Ưu Phật.
Nam mô Sư Tử Du Hí Bồ Tát.
Nam mô Sư Tử Phấn Tấn Bồ Tát.
Nam mô Vô Biên Thân Bồ Tát.
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật Đà.
Nam mô Đạt Mạ.
Nam mô Tăng Già.

Lại quy y như vậy, mười phương tận hư không giới hết thảy Tam Bảo. Nguyện xin Tam Bảo rũ lòng đại từ bi cứu vớt hết thảy chúng sanh khắp mười phương hiện đương chịu khổ trong đường Ngạ quỷ.
Lại nguyện xin cứu vớt hết thảy chúng sanh khắp mười phương hiện đương chịu khổ vô lượng trong đường địa ngục; trong đường súc sinh và trong nhân loại; làm cho

(Trang 215)

các chúng sanh ấy liền được giải thoát, đoạn ba nghiệp chướng trừ năm sợ hãi chứng tám giải thoát, dùng bốn hoằng thệ độ thoát chúng sanh, đảnh lễ Thế Tôn, thưa thỉnh giáo lý vi diệu; không rời đương xứ, sạch hết hữu lậu, tùy tâm tự tại, dạo khắp cõi Phật, hạnh nguyện viên mãn, chóng thành Chánh giác.
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng, lại chí thành lắng lòng mà nghe.
Lúc bấy giờ, Phật ở thành Vương Xá, phía đông nam có một hồ nước, bao nhiêu tiểu dãi ô uế đều chảy vào hồ ấy, hôi thối không thể đến gần được. Có một con trùng lớn sinh ở trong hồ ấy. Thân dài mấy trượng; không có tay chân, quằn quại lăn lóc, hàng ngàn người đến xem. Ngài A Nan thấy vậy về bạch Phật. Phật và đại chúng cùng nhau đến hồ ấy xem. Đại chúng nghĩ rằng:
“Nay đây Đức Như Lai sẽ nói rõ đầu đuôi việc con trùng ấy cho mọi người nghe”.
Phật bảo đại chúng: “Sau khi đức Phật Duy Vệ nhập Niết bàn rồi, có năm trăm thầy Tỳ kheo đi qua một ngôi chùa. Lúc ghé vào chùa, chủ chùa rất hoan hỷ vui mừng,

(Trang 216)

mời đại chúng ở lại để cúng đường. Ông hết lòng thết đãi không tiếc món gì.
Sau đó có năm trăm người đi buôn vào biển lấy ngọc, lúc về cũng ghé lại chùa. Các người ấy thấy năm trăm thầy Tỳ kheo tu hành tinh tấn liền hân hoan, phát tâm cúng dường, mới cùng nhau nghĩ rằng: “Phước điền khó gặp, chúng ta nên cúng dường lễ mọn”.
Mỗi người cúng một viên ngọc, cộng được năm trăm ma ni châu, đem gởi chủ chùa. Sau đó chủ chùa sinh tâm không tốt, lập mưu muốn đoạt lấy một mình, không đem ra cúng dường chúng Tăng.
Đại chúng mới hỏi: “Ngọc châu của khách buôn bố thí nên đem ra cúng dường đại chúng?”.
Chủ chùa đáp rằng: “Ngọc châu ấy cúng cho ta, nếu các ngươi muốn đoạt, thì có phẩn uế cho các ngươi. Nếu các ngươi không đi ngay bây giờ, ta sẽ chặt tay chân các người quăng vào hầm phẩn”.
Đại chúng nghĩ thương người ấy quá ngu si, bèn làm thinh bỏ đi.

(Trang 217)

Vì tội ác ấy nên nay chủ chùa kia phải làm thân trùng này, sau sẽ vào địa ngục chịu vô lượng đau khổ.
- Lại nữa, khi ấy Phật ở thành Vương Xá, thấy một chúng sanh có cái lưỡi rất dài lớn. Có đinh sắt đóng vào lưỡi, lửa phát cháy hừng hực, chịu đau khổ suốt ngày đêm. Ngài Mục Liên bèn hỏi Phật: “Chúng sanh ấy vì tội gì mà chịu khổ như vậy?”.
Phật đáp:
"Người ấy xưa kia từng làm chủ chùa, hay mắng nhiếc, xua đuổi các thầy Tỳ kheo ở lâu trong chùa hay khách Tăng mới đến cũng vậy mà không cho ăn uống. Không bình đẳng cúng dường. Vì nhân duyên ấy nên nay mắc phải tội như vậy”.
- Lại có một chúng sanh thân thể dài lớn, trên đầu có cái vạc nước đồng sôi, bốc lửa cháy hừng hực, nước đồng sôi chảy tràn ra tứ phía, chảy khắp thân thể, chúng sanh ấy nương hư không mà đi mãi không nghỉ.
Ngài Mục Liên hỏi Phật: “Chúng sanh ấy vì tội gì mà phải chịu khổ như thế?”.
Phật đáp:

(Trang 218)

“Người ấy đời xưa làm Tri sự ở chùa, Đàn việt cúng dầu thắp, Tri sự không chia cho khách Tăng. Đợi các thầy khách Tăng đi rồi sau đó mới chia cho các thầy thường ở trong chùa.
Vì nhân duyên ấy nên nay người ấy mắc phải tội như vậy”.
- Lại có một chúng sanh bị các hoàn sắt cháy đỏ hừng hực, từ trên đầu mà vào, từ dưới chân mà ra, nương hư không mà đi, người ấy đau khổ vô cùng, không thể chịu được.
Ngài Mục Liên hỏi Phật: “Chúng sanh ấy vì tội gì mà phải chịu khổ như vậy?".
Phật đáp rằng:
“Người ấy đời trước làm ông Sa di có trộm bảy trái me trong vườn chúng Tăng. Sau khi chết rồi, Sa di ấy đã chịu vô lượng khổ trong địa ngục. Nay nghiệp báo chưa hết, hãy còn dư ươn, nên phải chịu khổ như vậy”.
- Lại có một con cá lớn, một thân trăm đầu, mỗi đầu một khác, bị sa vào lưới người.
Thế Tôn thấy vậy bèn nhập định “Từ tâm Tam muội” gọi con cá ấy. Cá ấy tức thời ứng khẩu trả lời.

(Trang 219)

Thế Tôn hỏi cá:
- Mẹ ngươi ở đâu?
- Mẹ tôi làm con trùng rúc trong nhà xí! Phật bảo các Tỳ kheo: “Lúc Phật Ca Diếp ra đời, con cá to lớn này làm vị Tam Tạng Tỳ kheo, vì ác khẩu nên chịu quả báo nhiều đầu. Mẹ nó bấy giờ thọ hưởng lợi dưỡng của nó, nên đọa làm con trùng rúc trong cầu tiêu”.
Phật dạy tiếp rằng: “Mắc phải báo ấy đều do chúng sanh ác khẩu, nói lời thô tháo cứng xẵng, tuyên truyền bỉ thử, làm cho hai bên tranh đấu loạn lạc lẫn nhau. Chết rồi vào địa ngục, bị ngục tốt đốt đỏ cái bể sắt trong ngoài nóng đỏ như nước đồng sôi để nung cái lưỡi người có tội. Quỷ lại đốt đỏ móc sắt, móc có ba lưỡi sắt bén như mũi nhọn để đoạn cái lưỡi của tội nhân. Lại kéo dài cái lưỡi ra như trâu kéo cày.
Lại đốt đỏ cái chày sắt dộng vào yết hầu, trải qua ngàn vạn kiếp. Tội hết mới ra khỏi địa ngục, làm loài chim muông”.
Phật dạy: “Nếu có chúng sanh nào đàm luận việc vua chúa, chánh trị, cha mẹ và sư trưởng, thì tội lại còn nặng hơn”.

(Trang 220)

Ngày nay đại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng nghe Phật dạy lời ấy, rất đáng sợ hãi. Bấy giờ đại chúng đã thấy rõ ràng: Thiện ác hai đường không sai, tội phước và quả báo chắc thật, quyết định không còn nghi ngờ gì nữa.
Vậy nên hết lòng hổ thẹn, siêng năng tu hành, cầu xin sám hối. Đại chúng đã cùng nhau xem kinh, đã đồng thấy những việc như trên, nếu không cố gắng, lười biếng muốn thối lui thì việc tu hành không do đâu có kết quả.
Ví như người nghèo thiếu, lòng thèm khát các vị cao lương mà thực tế không có một vị nào thì rốt cuộc cũng không có ích gì cho sự thèm khát khổ não kia.
Cho nên biết rằng: Người nào muốn cầu có pháp môn nhiệm mầu thù thắng, muốn độ thoát hết thảy chúng sanh, người ấy không thể nói suông rằng: Tôi chỉ tu tâm mà được. Người ấy cần phải có tâm mà cũng cần phải thực hành bằng sự tướng nữa mới được. Cần phải có sự có lý. Sự lý đi đôi công việc mới có kết quả hoàn toàn, thành tựu viên mãn.

(Trang 221)

Vậy nên đại chúng phải nỗ lực tinh tấn tu hành cầu xin sám hối. Cùng nhau chí tâm tha thiết, đầu thành đảnh lễ Tam Bảo.
Nguyện xin thay thế hết thảy chúng sanh trong đường địa ngục, đường ngạ quỷ, đường súc sinh và đường nhân loại mà cầu xin sám hối.
Lại nguyện vì cha mẹ, sư trưởng, thiện ác tri thức và cùng hết thảy bà con mà cầu xin sám hối. Những tội đã làm rồi nguyện xin trừ diệt. Những tội chưa làm thề không dám làm.
Nhất tâm đảnh lễ quy y Thế gian Đại Từ Bi Phụ:

Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Đề Sa Phật.
Nam mô Minh Diệu Phật.
Nam mô Trì Man Phật.
Nam mô Công Đức Minh Phật.
Nam mô Thị Nghĩa Phật.
Nam mô Đăng Diệu Phật.
Nam mô Hưng Thịnh Phật.
Nam mô Dược Sư Phật.
Nam mô Thiện Nhu Phật.

(Trang 222)

Nam mô Bạch Hào Phật.
Nam mô Kiên Cố Phật.
Nam mô Phước Oai Đức Phật.
Nam mô Bất Khả Hoại Phật.
Nam mô Đức Tướng Phật.
Nam mô La Hầu Phật.
Nam mô Chúng Chủ Phật.
Nam mô Phạm Thanh Phật.
Nam mô Kiên Tế Phật.
Nam mô Bất Cạo Phật.
Nam mô Tác Minh Phật.
Nam mô Đại Sơn Phật.
Nam mô Kim Cang Phật.
Nam mô Tương Chúng Phật.
Nam mô Vô Úy Phật.
Nam mô Chân Bảo Phật.
Nam mô Sư Tử Phan Bồ Tát.
Nam mô Sư Tử Tác Bồ Tát.
Nam mô Vô Biên Thân Bồ Tát.
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát.

Lại quy y như vậy, mười phương tận hư không giới hết thảy Tam Bảo. Nguyện xin Tam Bảo dùng đại từ bi lực, đại trí huệ lực, vô lượng tự tại thần lực, không thể tư nghị; độ thoát nhất thiết chúng sanh lực trong lục đạo, diệt trừ hết thảy đau khổ cho chúng sanh trong

(Trang 223)

lục đạo, khiến các chúng sanh ấy đoạn trừ hết tội nghiệp trong ba đường ác; rốt ráo không tạo năm tội nghịch; không tạo mười ác nghiệp nữa. Từ nay trở đi các chúng sanh ấy không sinh vào chỗ khổ báo, được sinh về Tịnh độ; bỏ mạng sống khổ báo được mạng sống trí huệ; bỏ thân khổ báo được thân Kim cang; bỏ khổ ác thú được vui Niết bàn; nhớ khổ trong ác thú, phát tâm Bồ đề. Bốn vô lượng tâm, sáu ba la mật thường được hiện tiền. Bốn vô ngại biện, sáu sức thần thông được tự tại như ý, dõng mãnh tinh tấn, không thôi không nghỉ, và thắng tấn tu hành đến khi mãn hạnh Thập địa, trở lại độ thoát hết thảy chúng sanh.

(Trang 224)
 
Chương Thứ Tám
Ra Khỏi Địa Ngục

Ngày nay đại chúng trong đồng nghiệp đạo tràng nên biết rằng: Vạn pháp không đồng, công dụng bất nhất, như sáng và tối đối đãi nhau. Tuy nhiên chỉ có thiện và ác là gồm thâu tất cả.
Làm thiện được quả báo tốt đẹp ở các cõi trời, cõi người. Làm ác thời mắc quả báo xấu xa, đau khổ kịch liệt trong ba đường ác.
Đó là hai sự thật rõ ràng trên đời, không phải giả dối. Những người ngu si lầm lạc phần nhiều sinh tâm nghi ngờ; hoặc cho cõi trời là chuyện bịa đặt; địa ngục là lời nói dối, không có. Những người ấy không biết suy nhân nghiệm quả; không biết xét quả tìm nhân. Người không biết phân biệt nhân quả thì cố chấp lấy sự hiểu biết sai lầm của thế gian. Không những chấp không, chấp có, mà còn làm thơ làm bài để biếm xích. Tâm họ trái với điều thiện lợi mà không hề

(Trang 225)

tự biết sai lầm. Giả như có người chỉ bảo cho thì họ càng chấp chặt lấy thiên kiến; sai lầm còn kiên cố hơn nữa. Những người như thế là họ tự gieo đầu vào đường ác. Trong nháy mắt liền thẳng xuống địa ngục, từ thân hiếu tử không thể cứu được. Họ đi vào hầm lửa, vạc dầu trước hơn ai hết. Họ đi thiêu thân trong lửa nóng vạc dầu sôi mà không tự biết. Thân tâm tan nát, tinh thần thống khổ, khi ấy ăn năn không kịp.
Ngày nay đại chúng trong đạo tràng thấy rõ thiện ác nương nhau như bóng theo hình, như vang theo tiếng.
Tội phước hai đường tuy khác nhau nhưng cũng phải đợi kỳ trả quả báo nghiêm ngặt, mong sao mọi người đều sáng suốt tin tưởng không sanh tâm nghi ngờ.
Sao gọi là địa ngục? Kinh dạy rằng:
Trong tam thiên đại thiên thế giới, ở giữa khoảng hai núi Thiết Vi, chỗ tối tăm nhất gọi là Địa ngục, thành bằng sắt dài rộng một ngàn sáu trăm vạn dặm. Trong thành chia ra tám vạn bốn ngàn ngăn. Dưới lấy sắt làm đất, trên lấy sắt làm lưới. Lửa

(Trang 226)

đốt thành ấy trong ngoài cháy đỏ chảy ra nước. Lửa trên cháy suốt xuống dưới, lửa dưới cháy suốt bốc lên trên.
Tên riêng của mỗi ngục là:
Ngục nhóm họp,
Ngục tối tăm,
Ngục xe dao,
Ngục rừng kiếm,
Ngục máy sắt,
Ngục rừng gai,
Ngục võng sắt,
Ngục hang sắt,
Ngục hoàn sắt,
Ngục đá nhọn,
Ngục hầm than,
Ngục rừng cháy,
Ngục hổ lang,
Ngục kêu la,
Ngục nước sôi,
Ngục than nóng,
Ngục núi dao,
Ngục rừng kiếm,
Ngục đá mài lửa,
Ngục thành lửa,
Ngục cột trụ đồng,

(Trang 227)

Ngục giường sắt,
Ngục xe lửa,
Ngục bánh xe lửa,
Ngục uống nước đồng sôi
Ngục khạc ra lửa,
Ngục hết sức nóng,
Ngục hết sức lạnh,
Ngục rút lưỡi,
Ngục đóng đinh vào thân,
Ngục trâu cày,
Ngục chém chặt,
Ngục đao binh,
Ngục mổ xẻ,
Ngục sông tro,
Ngục tiểu dãi trào lên,
Ngục giá lạnh,
Ngục bùn lầy,
Ngục ngu si,
Ngục khóc lóc,
Ngục đui điếc,
Ngục câm ngọng,
Ngục lưỡi câu sắt,
Ngục mỏ sắt nhọn.
Lại có những đại tiểu nê lê A tỳ địa ngục.

(Trang 228)

Phật bảo đức A Nan:
Sao gọi là A tỳ địa ngục?
A: nghĩa là vô.
Tỳ: nghĩa là già.
A: nghĩa là vô.
Tỳ: nghĩa là cứu.
Nói chung lại: A Tỳ nghĩa là vô già, vô cứu; không ngăn dứt, không cứu vớt được.
Lại nữa:
A: là không gián đoạn.
Tỳ: là không lay động.
A: là hết sức nóng nhiệt.
Tỳ: là hết sức khổ não.
A: là không an nhàn.
Tỳ: là không an trú.
Tóm lại: A tỳ nghĩa là hết sức hành hạ, không tạm nghỉ, không gián đoạn, không lay chuyển; hết sức khổ não, như nung như nấu, không an nhàn, không chấm dứt, cứ hành phạt mãi mãi nên gọi là A tỳ.
Lại nữa:
A: là đại diệm; là lửa dữ.
Tỳ: là mãnh nhiệt; là nóng dữ.
Lửa dữ nhập tâm, gọi là A tỳ địa ngục.

(Trang 229)

Phật dạy ngài A Nan: Địa ngục A tỳ dài rộng bằng nhau ba mươi hai vạn dặm. Bảy lớp thành sắt, bảy lớp lưới sắt bao bọc ngục A tỳ. Dưới có mười tám ngăn, xung quanh có bảy lớp thành, đều có đặt rừng dao.
Trong bảy lớp thành lại có rừng gươm. Dưới mười tám ngăn, ngăn có tám vạn bốn ngàn lớp. Bốn góc đều có bốn đại đồng cẩu, thân dài lớn đến một vạn sáu ngàn dặm (16.000), mắt như điện chớp, răng như cây gươm, nanh như núi dao, lưỡi như mũi sắt nhọn, toàn thân chân lông phun lửa dữ, hơi bay như khói, hôi thối khó chịu, thế gian không có vật gì thối bằng.
Lại có mười tám ngục tốt đầu như đầu La sát miệng như miệng Dạ xoa. Chó có sáu mươi bốn con mắt, mắt tung ra xa những hoàn sắt nóng, như xe chạy xa mười dặm. Răng phía trên cao một trăm sáu mươi dặm. Trên đầu răng tuôn ra lửa dữ, đốt cháy xe sắt phía trước, làm cho bánh xe kia mỗi lỗ lưới tròn hóa làm một ức con dao lửa, kiếm kích sắc bén; những lưỡi nhọn đều từ trong lửa dữ ấy lưu xuất. Lửa ra như suối chảy đốt cháy ngục thành A tỳ. Thành cháy đỏ như nước đồng sôi.

(Trang 230)

Bọn ngục tốt kia đầu có tám đầu trâu, mỗi mỗi đầu đều có mười tám cái sừng. Trên đầu mỗi sừng tuôn ra một đống lửa lớn. Đống lửa lớn lại hóa ra bánh xe dao lớn. Như bao nhiêu bánh xe, mỗi mỗi bánh xe thứ lớp theo nhau chạy trong lửa dữ ghê gớm, đầy cả A tỳ địa ngục.
Ở dưới đất thì có chó đại đồng cẩu há miệng le lưỡi. Lưỡi như đòn xóc nhọn, le ra thì hóa thành vô lượng lưỡi, đầy cả A tỳ địa ngục.
Ở trong bảy lớp thành có bảy lớp cờ. Ở đầu mỗi cờ, lửa tuôn ra như suối trào vọt, nước sắt chảy đầy cả A tỳ địa ngục.
Bốn cửa thành ngục A tỳ, ở trên mỗi ngưỡng cửa có mười tám chảo nước đồng sôi trào ra rồi chảy tràn đầy cả thành A tỳ.
Trong mỗi ngăn, Địa ngục lại có tám vạn bốn ngàn rắn mãng xà sắt, phun độc, phun lửa, thân hình lớn đầy thành, kêu la như sấm dậy, mưa xuống những hoàn sắt nóng lớn đầy cả thành A tỳ.
Nỗi khổ trong thành kể đến tám vạn ức thiên. Bao nhiêu thống khổ trong những thống khổ đều tích tụ ở trong thành này.

(Trang 231)

Lại có năm trăm ức con trùng ở trong thành, mỗi con trùng có tám vạn bốn ngàn mỏ nhọn. Đầu mỗi mỏ nhọn có lửa tuôn như mưa xối, đầy cả thành A tỳ.
Mỗi khi trùng ấy rơi xuống thì lửa dữ trong thành A tỳ bốc ngọn lên dữ dội, hừng hực sáng choang. Lửa mạnh ấy chiếu đến ba trăm ba mươi sáu vạn dặm. Từ A tỳ ngục xông lên biển cả, dưới núi ốc tiêu, nước biển cả giọt xuống, mỗi giọt lớn bằng trục bánh xe to, thành ra những mũi nhọn sắt lớn, đầy cả thành A tỳ.
Phật bảo ngài A Nan: “Như chúng sinh nào giết cha hại mẹ, nhục nhã sáu dòng bà con, người ấy khi mạng chung chó sắt hả miệng, hóa làm mười tám chiếc xe, giống như xe vàng, có bảo cái che trên. Hết thảy mũi lửa nhọn kia hóa làm ngọc nữ. Người có tội kia xa trông thấy, sinh tâm vui mừng. Nghĩ rằng: “Ta muốn đến đó chơi, ta muốn đến đó chơi”. Khi đến rồi, thì bị gió phong đao xẻ thân, lạnh quá chừng. Tội nhân lại nghĩ: “Há được lửa tốt, ngồi trên xe đốt lên mà hơ”. Nghĩ như thế rồi thì liền chết. Trong giây phút lại thấy mình ngồi trên xe

(Trang 232)

vàng ngắm xem ngọc nữ. Nhưng bị ngọc nữ cầm búa sắt chém thân. Dưới thân lửa bốc hừng hực, mau như chớp nhoáng, trong nháy mắt lại rơi vào A tỳ địa ngục.
Từ ngăn trên, chớp mắt đọa xuống ngăn dưới. Thân lớn đầy ngăn. Chó đồng cẩu lớn tiếng sủa lên và nhai xương nuốt tủy. Ngục tốt La sát cầm xoa sắt lớn xoa đầu bắt đứng dậy; lửa cháy khắp thân, cháy luôn thành A tỳ. Lưới sắt tuôn mưa dao, dao theo lỗ chân lông vào trong thân thể, hóa làm vua Diêm Vương. Vua lớn tiếng bảo rằng: “Kẻ ngu si, giống ngục tốt kia, ngươi ở dương thế, bất hiếu với cha mẹ, tà mạng không đạo đức nên phải đọa vào chỗ này, gọi là A tỳ Địa ngục. Ngươi là người không biết ơn, không hổ thẹn. Ngươi chịu khổ não như thế có sướng không?”. Nói rồi, biến mất.
Bấy giờ ngục tốt lại đuổi tội nhân từ ngăn dưới lên ngăn trên. Phải trải qua tám vạn bốn ngàn ngăn giữa mới qua khỏi lớp lưới sắt cuối cùng, một ngày một đêm mới khắp A tỳ địa ngục. Một ngày một đêm ở địa ngục bằng sáu chục tiểu kiếp ở dương gian. Tội nhân sống như vậy trong địa ngục một đại kiếp.

(Trang 233)

Người phạm tội ngũ nghịch không biết hổ thẹn nên gây tội ấy. Vì tội ngũ nghịch nên lúc lâm chung có mười tám thứ phong đao như xe lửa sắt cắt xẻ thân thể. Tội nhân vì nóng bức nên nói thế này: “Nếu ta có các thứ hoa sắc đẹp ấy, cây đại thọ mát mẻ kia, ở đó dạo chơi há không vui sao!”.
Nghĩ như thế rồi thì có tám vạn bốn ngàn rừng ác kiếm hóa làm cây báu, hoa quả tốt tươi, sắp bày ra trước mắt, lửa nóng hừng hực, hóa làm hoa sen nơi gốc cây kia. Tội nhân thấy vậy liền nghĩ thầm: “Ta đã mãn nguyện”.
Trong nháy mắt, tội nhân liền ngồi trên hoa sen. Trong khoảnh khắc, các trùng mỏ nhọn, từ trong hoa lửa sinh ra rúc ráy cốt tủy, thấu suốt tâm can. Tội nhân phải vịn cây đứng dậy. Các nhành cây hóa thành lưỡi kiếm, róc thịt chẻ xương. Vô lượng rừng đao từ không trung rơi xuống. Những lò hồng, xe lửa, mười tám điều đau khổ nhất thời đưa đến.
Những cảnh tượng này hiện ra thì tội nhân bị hãm xuống địa ngục từng dưới; rồi từ từng dưới lên từng trên. Thân hình lột

(Trang 234)

hết như hoa nở. Trải khắp ngăn dưới, rồi lên ngăn trên, bị lửa mạnh thiêu đốt dữ dội.
Đến ngăn trên rồi, thân hình tràn khắp ngăn ấy, bị khổ não nung nấu vô cùng. Tội nhân phải trợn mắt le lưỡi. Vì phạm tội ngũ nghịch, nên bị vạn ức đồng sôi, trăm ngàn đao luân, từ trên không rơi xuống, vào trên đầu, ra dưới chân; đau khổ còn gấp bội hơn trước nữa một ngàn vạn phần. Người phạm đủ năm nghịch tội phải chịu tội đủ năm kiếp.
Lại nữa nếu người nào phá cấm giới của Phật, luống ăn dùng của tín thí, phỉ báng Tam Bảo, tà kiến, không biết nhân quả, không học trí huệ Bát Nhã, khinh chê mười phương Phật, trộm cắp của Pháp, làm việc ô uế bất tịnh hạnh, không hổ thẹn, hủy nhục bà con, tạo các điều ác, người ấy khi sắp lâm chung, tội báo bị phong đao xẻ thân, nằm ngửa bất tỉnh, như bị đánh đập.
Tư tưởng hoang mang, si mê lầm lẫn. Thấy nhà cửa và con cái nam nữ, và lớn nhỏ, cùng tất cả sự vật của mình đều bất tịnh. Tiểu dãi hôi thối, tràn đầy thân thể. Bấy giờ người ấy nghĩ rằng:

(Trang 235)

“Sao đây không có thành quách và núi rừng tốt đẹp, để ta dạo chơi mà lại ở giữa đám bất tịnh ô uế này ư!”.
Nghĩ như thế rồi, liền bị ngục tốt La sát lấy cái xoa sắt lớn đánh ngục A tỳ, các rừng đao hóa làm cây báu, và ao hồ mát mẻ, lửa dữ hóa làm hoa sen lá vàng; những con trùng sắt mỏ nhọn hóa làm chim phù nhạn. Những tiếng thống khổ trong địa ngục như âm thanh ca vịnh.
Tội nhân trông thấy tốt đẹp như vậy liền nghĩ rằng: “Ta mau đến đó mà dạo chơi”. Nghĩ xong liền thấy mình ngồi trên hoa sen lửa. Các trùng sắt mỏ nhọn từ các lỗ chân lông trong chân rúc ra, cắn rứt thân thể. Trăm ngàn bánh xe sắt từ trên đảnh vào thân, hằng hà sa số xoa sắt, khiêu múc tròng mắt. Chó đồng cẩu trong địa ngục hóa làm trăm ức chó sắt dành nhau cấu xé thân hình tội nhân, lấy trái tim mà ăn. Trong nháy mắt, thân thể đã thành cánh hoa sắt, tràn khắp mười tám ngăn ngục, mỗi mỗi hoa có tám vạn bốn ngàn lá, mỗi mỗi lá, đầu mình tay chân chi tiết đều ở trong một ngăn; địa ngục không lớn, thân này không nhỏ, cho nên biến khắp địa ngục.

(Trang 236)

Những tội nhân này đọa vào địa ngục ấy tám vạn bốn ngàn đại kiếp. Ngục này tiêu diệt rồi lại vào trong mười tám ngăn ngục khác, chịu khổ như trên. A tỳ ngục này về phương Nam cũng có mười tám ngăn; phương Tây cũng có mười tám ngăn, phương Bắc cũng có mười tám ngăn.
Hủy báng các kinh Phương đẳng Đại thừa tạo đủ năm tội nghịch, phá hoại Hiền Thánh, đoạn các căn lành. Những người như vậy chịu đủ tội lỗi. Thân lớn khắp A tỳ địa ngục; tứ chi trải khắp cả mười tám ngăn. A tỳ địa ngục này chỉ thiêu đốt những chúng sinh tạo giống địa ngục như trên. Khi kiếp địa ngục sắp hết thì thấy cửa địa ngục phương Đông liền mở. Tội nhân nhìn thấy ngoài cửa ấy có dòng nước trong chảy mát mẻ; có rừng cây hoa quả tốt tươi hiện ra, những tội nhân ở ngăn dưới nhìn thấy thì mắt tạm bớt đổ lửa. Từ ngăn dưới vươn mình lên quằn quại bò đi, tuột cả thân hình mà chạy lên ngăn trên, tay vin bánh xe đao. Bấy giờ trên không trung mưa xuống những hoàn sắt nóng. Tội nhân chạy đến cửa phương Đông. Vừa đến cổng thì ngục tốt La

(Trang 237)

sát tay cầm xoa sắt đâm ngược vào tròng mắt của tội nhân.
Chó đồng cẩu nhai ngầu trái tim; tội nhân phải chết ngất. Chết rồi sống lại, thấy cửa phương Nam mở như cửa phương Đông trước kia không khác
Cửa phương Tây, phương Bắc cũng đều như vậy. Trải qua thời gian nửa kiếp, tội nhân phải chết trong A tỳ địa ngục.
Chết rồi sống lại sinh vào địa ngục giá lạnh, rồi chết trong địa ngục hàn băng này.
Chết rồi lại sống, sống rồi lại sinh vào địa ngục hắc ám, một trăm, một ngàn vạn năm, mắt không trông thấy, thân làm con đại trùng, quằn quại bỏ đi; các căn ám độn, không hiểu biết gì phải quấy; lại bị một trăm một ngàn hổ lang lôi kéo dành ăn. Chết rồi lại sinh vào loài súc sanh, năm ngàn vạn năm làm thân chim muông. Khổ sở như thế cho đến khi hết tội, được sinh làm người. Nhưng lại phải đui, điếc, ngọng, lịu, phong hủi, ung thư, bần cùng hạ tiện. Bao nhiêu suy đồi khổ sở mình phải tự rước lấy. Làm thân hèn hạ như vậy năm trăm lần sống thác. Lại sinh vào loài quỷ đói. Ở trong

(Trang 238)

Ngạ quỷ gặp được thiện tri thức các vị đại Bồ Tát quở trách nói rằng:
“Ngươi ở trong vô lượng đời về trước đã tạo ra vô lượng tội, phỉ báng Tam Bảo, không tin nhân quả nên đọa trong A tỳ địa ngục, chịu nhiều khổ não không thể kể xiết. Nay ngươi nên phát tâm từ bi”.
Bấy giờ, các Ngạ quỷ nghe lời ấy rồi liền xưng Nam mô Phật.
Nhờ sức hồng ân của chư Phật, liền được mạng chung, sinh lên cõi trời tứ thiên. Sinh lên đó rồi, ăn năn tự trách, phát tâm Bồ đề.
Tâm quang của các chư Phật không bỏ những người phát tâm này, thâu nhiếp các người phát tâm như vậy và thương mến như La Hầu La. Dạy bảo tránh xa địa ngục, không cho thân sa đọa như quý tròng con mắt.
Phật bảo Đại vương: “Muốn biết hào quang chư Phật thường chiếu nơi nào thì hãy xem hào quang ấy thường chiếu những nơi chúng sinh đau khổ như vậy không gián đoạn, không người cứu vớt. Tâm Phật thường biết nơi đâu? Thường biết những nơi chúng sinh chịu hành phạt cực hình,

(Trang 239)

cực ác như vậy. Vậy đem tâm Phật mà trau giồi tâm mình, trải qua nhiều số kiếp, khiến các người ác kia phát tâm Bồ đề”.
Hôm nay đại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng nghe Phật Thế Tôn nói các thống khổ như trên thì gia tâm giữ ý, chớ sinh lòng buông lung. Nếu đại chúng không siêng năng lập phương tiện tu hành Bồ Tát đạo thì ở trong mỗi địa ngục đều có tội phần.
Ngày nay đại chúng nên vì hết thảy chúng sinh hiện đang chịu thống khổ trong A tỳ địa ngục, vì hết thảy chúng sinh sẽ chịu thống khổ trong A tỳ địa ngục, và rộng ra cho đến hết thảy chúng sanh hiện chịu, và sẽ chịu vô cùng vô tận thống khổ trong hết thảy địa ngục ở mười phương mà đầu thành đảnh lễ quy y Thế gian Đại Từ Bi phụ:

5,694 lượt xem
22/08/2021

Bình luận

Phản hồi cho Hủy bỏ