Giới thiệu về Website

Trang web phamthiyen.com là nơi đăng tải những bài viết, video hướng dẫn cách áp dụng Phật Pháp: giáo lý nhân quả và tâm linh vào cuộc sống bằng phương pháp tâm linh của đạo Phật.

Phạm Thị Yến

Lương Hoàng Sám – Phần 7

(Trang 224)

Chương Thứ Tám
Ra Khỏi Địa Ngục

Ngày nay đại chúng trong đồng nghiệp đạo tràng nên biết rằng: Vạn pháp không đồng, công dụng bất nhất, như sáng và tối đối đãi nhau. Tuy nhiên chỉ có thiện và ác là gồm thâu tất cả.
Làm thiện được quả báo tốt đẹp ở các cõi trời, cõi người. Làm ác thời mắc quả báo xấu xa, đau khổ kịch liệt trong ba đường ác.
Đó là hai sự thật rõ ràng trên đời, không phải giả dối. Những người ngu si lầm lạc phần nhiều sinh tâm nghi ngờ; hoặc cho cõi trời là chuyện bịa đặt; địa ngục là lời nói dối, không có. Những người ấy không biết suy nhân nghiệm quả; không biết xét quả tìm nhân. Người không biết phân biệt nhân quả thì cố chấp lấy sự hiểu biết sai lầm của thế gian. Không những chấp không, chấp có mà còn làm thơ làm bài để biếm xích. Tâm họ trái với điều thiện lợi mà không hề

(Trang 225)

tự biết sai lầm. Giả như có người chỉ bảo cho thì họ càng chấp chặt lấy thiên kiến; sai lầm còn kiên cố hơn nữa. Những người như thế là họ tự gieo đầu vào đường ác. Trong nháy mắt liền thẳng xuống địa ngục, từ thân hiếu tử không thể cứu được. Họ đi vào hầm lửa, vạc dầu trước hơn ai hết. Họ đi thiêu thân trong lửa nóng vạc dầu sôi mà không tự biết. Thân tâm tan nát, tinh thần thống khổ, khi ấy ăn năn không kịp.
Ngày nay đại chúng trong đạo tràng thấy rõ thiện ác nương nhau như bóng theo hình, như vang theo tiếng.
Tội phước hai đường tuy khác nhau nhưng cũng phải đợi kỳ trả quả báo nghiêm ngặt, mong sao mọi người đều sáng suốt tin tưởng không sanh tâm nghi ngờ.
Sao gọi là địa ngục? Kinh dạy rằng:
Trong tam thiên đại thiên thế giới, ở giữa khoảng hai núi Thiết Vi, chỗ tối tăm nhất gọi là Địa ngục, thành bằng sắt dài rộng một ngàn sáu trăm vạn dặm. Trong thành chia ra tám vạn bốn ngàn ngăn. Dưới lấy sắt làm đất, trên lấy sắt làm lưới. Lửa

(Trang 226)

đốt thành ấy trong ngoài cháy đỏ chảy ra nước. Lửa trên cháy suốt xuống dưới, lửa dưới cháy suốt bốc lên trên.
Tên riêng của mỗi ngục là:
Ngục nhóm họp,
Ngục tối tăm,
Ngục xe dao,
Ngục rừng kiếm,
Ngục máy sắt,
Ngục rừng gai,
Ngục võng sắt,
Ngục hang sắt,
Ngục hoàn sắt,
Ngục đá nhọn,
Ngục hầm than,
Ngục rừng cháy,
Ngục hổ lang,
Ngục kêu la,
Ngục nước sôi,
Ngục than nóng,
Ngục núi dao,
Ngục rừng kiếm,
Ngục đá mài lửa,
Ngục thành lửa,
Ngục cột trụ đồng,

(Trang 227)

Ngục giường sắt,
Ngục xe lửa,
Ngục bánh xe lửa,
Ngục uống nước đồng sôi
Ngục khạc ra lửa,
Ngục hết sức nóng,
Ngục hết sức lạnh,
Ngục rút lưỡi,
Ngục đóng đinh vào thân,
Ngục trâu cày,
Ngục chém chặt,
Ngục đao binh,
Ngục mổ xẻ,
Ngục sông tro,
Ngục tiểu dãi trào lên,
Ngục giá lạnh,
Ngục bùn lầy,
Ngục ngu si,
Ngục khóc lóc,
Ngục đui điếc,
Ngục câm ngọng,
Ngục lưỡi câu sắt,
Ngục mỏ sắt nhọn.
Lại có những đại tiểu nê lê A tỳ địa ngục.

(Trang 228)

Phật bảo đức A Nan:
Sao gọi là A tỳ địa ngục?
A: nghĩa là vô.
Tỳ: nghĩa là già.
A: nghĩa là vô.
Tỳ: nghĩa là cứu.
Nói chung lại: A Tỳ nghĩa là vô già, vô cứu: không ngăn dứt, không cứu vớt được.
Lại nữa:
A: là không gián đoạn.
Tỳ: là không lay động.
A: là hết sức nóng nhiệt.
Tỳ: là hết sức khổ não.
A: là không an nhàn.
Tỳ: là không an trú.
Tóm lại: A tỳ nghĩa là hết sức hành hạ, không tạm nghỉ, không gián đoạn, không lay chuyển; hết sức khổ não, như nung như nấu, không an nhàn, không chấm dứt, cứ hành phạt mãi mãi nên gọi là A tỳ.
Lại nữa:
A: là đại diệm; là lửa dữ.
Tỳ: là mãnh nhiệt; là nóng dữ.
Lửa dữ nhập tâm, gọi là A tỳ địa ngục.

(Trang 229)

Phật dạy ngài A Nan: Địa ngục A tỳ dài rộng bằng nhau ba mươi hai vạn dặm. Bảy lớp thành sắt, bảy lớp lưới sắt bao bọc ngục A tỳ. Dưới có mười tám ngăn, xung quanh có bảy lớp thành, đều có đặt rừng dao.
Trong bảy lớp thành lại có rừng gươm. Dưới mười tám ngăn, ngăn có tám vạn bốn ngàn lớp. Bốn góc đều có bốn đại đồng cẩu, thân dài lớn đến một vạn sáu ngàn dặm (16.000), mắt như điện chớp, răng như cây gươm, nanh như núi dao, lưỡi như mũi sắt nhọn, toàn thân chân lông phun lửa dữ, hơi bay như khói, hôi thối khó chịu, thế gian không có vật gì thối bằng.
Lại có mười tám ngục tốt đầu như đầu La sát miệng như miệng Dạ xoa. Chó có sáu mươi bốn con mắt, mắt tung ra xa những hoàn sắt nóng, như xe chạy xa mười dặm. Răng phía trên cao một trăm sáu mươi dặm. Trên đầu răng tuôn ra lửa dữ, đốt cháy xe sắt phía trước, làm cho bánh xe kia mỗi lỗ lưới tròn hóa làm một ức con dao lửa, kiếm kích sắc bén; những lưỡi nhọn đều từ trong lửa dữ ấy lưu xuất. Lửa ra như suối chảy đốt cháy ngục thành A tỳ. Thành cháy đỏ như nước đồng sôi.

(Trang 230)

Bọn ngục tốt kia đầu có tám đầu trâu, mỗi mỗi đầu đều có mười tám cái sừng. Trên đầu mỗi sừng tuôn ra một đống lửa lớn. Đống lửa lớn lại hóa ra bánh xe dao lớn. Như bao nhiêu bánh xe, mỗi mỗi bánh xe thứ lớp theo nhau chạy trong lửa dữ ghê gớm, đầy cả A tỳ địa ngục.
Ở dưới đất thì có chó đại đồng cẩu há miệng le lưỡi. Lưỡi như đòn xóc nhọn, le ra thì hóa thành vô lượng lưỡi, đầy cả A tỳ địa ngục.
Ở trong bảy lớp thành có bảy lớp cờ. Ở đầu mỗi cờ, lửa tuôn ra như suối trào vọt, nước sắt chảy đầy cả A tỳ địa ngục.
Bốn cửa thành ngục A tỳ, ở trên mỗi ngưỡng cửa có mười tám chảo nước đồng sôi trào ra rồi chảy tràn đầy cả thành A tỳ.
Trong mỗi ngăn, Địa ngục lại có tám vạn bốn ngàn rắn mãng xà sắt, phun độc, phun lửa, thân hình lớn đầy thành, kêu la như sấm dậy, mưa xuống những hoàn sắt nóng lớn đầy cả thành A tỳ.
Nỗi khổ trong thành kể đến tám vạn ức thiên. Bao nhiêu thống khổ trong những thống khổ đều tích tụ ở trong thành này.

(Trang 231)

Lại có năm trăm ức con trùng ở trong thành, mỗi con trùng có tám vạn bốn ngàn mỏ nhọn. Đầu mỗi mỏ nhọn có lửa tuôn như mưa xối, đầy cả thành A tỳ.
Mỗi khi trùng ấy rơi xuống thì lửa dữ trong thành A tỳ bốc ngọn lên dữ dội, hừng hực sáng choang. Lửa mạnh ấy chiếu đến ba trăm ba mươi sáu vạn dặm. Từ A tỳ ngục xông lên biển cả, dưới núi ốc tiêu, nước biển cả giọt xuống, mỗi giọt lớn bằng trục bánh xe to, thành ra những mũi nhọn sắt lớn, đầy cả thành A tỳ.
Phật bảo ngài A Nan: “Như chúng sanh nào giết cha hại mẹ, nhục nhã sáu dòng bà con, người ấy khi mạng chung chó sắt hả miệng, hóa làm mười tám chiếc xe, giống như xe vàng, có bảo cái che trên. Hết thảy mũi lửa nhọn kia hóa làm ngọc nữ. Người có tội kia xa trông thấy, sinh tâm vui mừng. Nghĩ rằng: “Ta muốn đến đó chơi, ta muốn đến đó chơi”. Khi đến rồi, thì bị gió phong đao xẻ thân, lạnh quá chừng. Tội nhân lại nghĩ: “Há được lửa tốt, ngồi trên xe đốt lên mà hơ”. Nghĩ như thế rồi thì liền chết. Trong giây phút lại thấy mình ngồi trên xe

(Trang 232)

vàng ngắm xem ngọc nữ. Nhưng bị ngọc nữ cầm búa sắt chém thân. Dưới thân lửa bốc hừng hực, mau như chớp nhoáng, trong nháy mắt lại rơi vào A tỳ địa ngục.
Từ ngăn trên, chớp mắt đọa xuống ngăn dưới. Thân lớn đầy ngăn. Chó đồng cẩu lớn tiếng sủa lên và nhai xương nuốt tủy. Ngục tốt La sát cầm xoa sắt lớn xoa đầu bắt đứng dậy; lửa cháy khắp thân, cháy luôn thành A tỳ. Lưới sắt tuôn mưa dao, dao theo lỗ chân lông vào trong thân thể, hóa làm vua Diêm Vương. Vua lớn tiếng bảo rằng: “Kẻ ngu si, giống ngục tốt kia, ngươi ở dương thế, bất hiếu với cha mẹ, tà mạng không đạo đức nên phải đọa vào chỗ này, gọi là A tỳ Địa ngục. Ngươi là người không biết ơn, không hổ thẹn. Ngươi chịu khổ não như thế có sướng không?”. Nói rồi, biến mất.
Bấy giờ ngục tốt lại đuổi tội nhân từ ngăn dưới lên ngăn trên. Phải trải qua tám vạn bốn ngàn ngăn giữa mới qua khỏi lớp lưới sắt cuối cùng, một ngày một đêm mới khắp A tỳ địa ngục. Một ngày một đêm ở địa ngục bằng sáu chục tiểu kiếp ở dương gian. Tội nhân sống như vậy trong địa ngục một đại kiếp.

(Trang 233)

Người phạm tội ngũ nghịch không biết hổ thẹn nên gây tội ấy. Vì tội ngũ nghịch nên lúc lâm chung có mười tám thứ phong đao như xe lửa sắt cắt xẻ thân thể. Tội nhân vì nóng bức nên nói thế này: “Nếu ta có các thứ hoa sắc đẹp ấy, cây đại thọ mát mẻ kia, ở đó dạo chơi há không vui sao!”.
Nghĩ như thế rồi thì có tám vạn bốn ngàn rừng ác kiếm hóa làm cây báu, hoa quả tốt tươi, sắp bày ra trước mắt, lửa nóng hừng hực, hóa làm hoa sen nơi gốc cây kia. Tội nhân thấy vậy liền nghĩ thầm: “Ta đã mãn nguyện”.
Trong nháy mắt, tội nhân liền ngồi trên hoa sen. Trong khoảnh khắc, các trùng mỏ nhọn, từ trong hoa lửa sinh ra rúc ráy cốt tủy, thấu suốt tâm can. Tội nhân phải vịn cây đứng dậy. Các nhành cây hóa thành lưỡi kiếm, róc thịt chẻ xương, Vô lượng rừng đao từ không trung rơi xuống. Những lò hồng, xe lửa, mười tám điều đau khổ nhất thời đưa đến.
Những cảnh tượng này hiện ra thì tội nhân bị hãm xuống địa ngục từng dưới; rồi từ từng dưới lên từng trên. Thân hình lột

(Trang 234)

hết như hoa nở. Trải khắp ngăn dưới, rồi lên ngăn trên, bị lửa mạnh thiêu đốt dữ dội.
Đến ngăn trên rồi, thân hình tràn khắp ngăn ấy, bị khổ não nung nấu vô cùng. Tội nhân phải trợn mắt le lưỡi. Vì phạm tội ngũ nghịch, nên bị vạn ức đồng sôi, trăm ngàn đao luân, từ trên không rơi xuống, vào trên đầu, ra dưới chân; đau khổ còn gấp bội hơn trước nữa một ngàn vạn phần. Người phạm đủ năm nghịch tội phải chịu tội đủ năm kiếp.
Lại nữa nếu người nào phá cấm giới của Phật, luống ăn dùng của tín thí, phỉ báng Tam Bảo, tà kiến, không biết nhân quả, không học trí huệ Bát Nhã, khinh chê mười phương Phật, trộm cắp của Pháp, làm việc ô uế bất tịnh hạnh, không hổ thẹn, hủy nhục bà con, tạo các điều ác, người ấy khi sắp lâm chung, tội báo bị phong đao xẻ thân, nằm ngửa bất tỉnh, như bị đánh đập.
Tư tưởng hoang mang, si mê lầm lẫn. Thấy nhà cửa và con cái nam nữ, và lớn nhỏ, cùng tất cả sự vật của mình đều bất tịnh. Tiểu dãi hôi thối, tràn đầy thân thể. Bấy giờ người ấy nghĩ rằng:

(Trang 235)

“Sao đây không có thành quách và núi rừng tốt đẹp, để ta dạo chơi mà lại ở giữa đám bất tịnh ô uế này ư!”.
Nghĩ như thế rồi, liền bị ngục tốt La sát lấy cái xoa sắt lớn đánh ngục A tỳ, các rừng đao hóa làm cây báu, và ao hồ mát mẻ, lửa dữ hóa làm hoa sen lá vàng; những con trùng sắt mỏ nhọn hóa làm chim phù nhạn. Những tiếng thống khổ trong địa ngục như âm thanh ca vịnh.
Tội nhân trông thấy tốt đẹp như vậy liền nghĩ rằng: “Ta mau đến đó mà dạo chơi”. Nghĩ xong liền thấy mình ngồi trên hoa sen lửa. Các trùng sắt mỏ nhọn từ các lỗ chân lông trong thân rút ra, cắn rứt thân thể. Trăm ngàn bánh xe sắt từ trên đảnh vào thân, hằng hà sa số xoa sắt, khiêu múc tròng mắt. Chó đồng cẩu trong địa ngục hóa làm trăm ức chó sắt dành nhau cấu xé thân hình tội nhân, lấy trái tim mà ăn. Trong nháy mắt, thân thể đã thành cánh hoa sắt, tràn khắp mười tám ngăn ngục, mỗi mỗi hoa có tám vạn bốn ngàn lá, mỗi mỗi lá, đầu mình tay chân chi tiết đều ở trong một ngăn; địa ngục không lớn, thân này không nhỏ, cho nên biến khắp địa ngục.

(Trang 236)

Những tội nhân này đọa vào địa ngục ấy tám vạn bốn ngàn đại kiếp. Ngục này tiêu diệt rồi lại vào trong mười tám ngăn ngục khác, chịu khổ như trên. A tỳ ngục này về phương Nam cũng có mười tám ngăn; phương Tây cũng có mười tám ngăn, phương Bắc cũng có mười tám ngăn.
Hủy báng các kinh Phương đẳng Đại thừa tạo đủ năm tội nghịch, phá hoại Hiền Thánh, đoạn các căn lành. Những người như vậy chịu đủ tội lỗi. Thân lớn khắp A tỳ địa ngục; tứ chi trải khắp cả mười tám ngăn. A tỳ địa ngục này chỉ thiêu đốt những chúng sinh tạo giống địa ngục như trên. Khi kiếp địa ngục sắp hết thì thấy cửa địa ngục phương Đông liền mở. Tội nhân nhìn thấy ngoài cửa ấy có dòng nước trong chảy mát mẻ; có rừng cây hoa quả tốt tươi hiện ra, những tội nhân ở ngăn dưới nhìn thấy thì mắt tạm bớt đổ lửa. Từ ngăn dưới vươn mình lên quằn quại bò đi, tuột cả thân hình mà chạy lên ngăn trên, tay vịn bánh xe đao. Bấy giờ trên không trung mưa xuống những hoàn sắt nóng. Tội nhân chạy đến cửa phương Đông. Vừa đến cổng thì ngục tốt La

(Trang 237)

sát tay cầm xoa sắt đâm ngược vào tròng mắt của tội nhân.
Chó đồng cẩu nhai ngầu trái tim; tội nhân phải chết ngất. Chết rồi sống lại, thấy cửa phương Nam mở như cửa phương Đông trước kia không khác
Cửa phương Tây, phương Bắc cũng đều như vậy. Trải qua thời gian nửa kiếp, tội nhân phải chết trong A tỳ địa ngục.
Chết rồi sống lại sinh vào địa ngục giá lạnh, rồi chết trong địa ngục hàn băng này.
Chết rồi lại sống, sống rồi lại sinh vào địa ngục hắc ám, một trăm, một ngàn vạn năm, mắt không trông thấy, thân làm con đại trùng, quằn quại bỏ đi; các căn ám độn, không hiểu biết gì phải quấy; lại bị một trăm một ngàn hổ lang lôi kéo dành ăn. Chết rồi lại sinh vào loài súc sanh, năm ngàn vạn năm làm thân chim muông. Khổ sở như thế cho đến khi hết tội, được sinh làm người. Nhưng lại phải đui, điếc, ngọng, lịu, phung hủi, ung thư, bần cùng hạ tiện. Bao nhiêu suy đồi khổ sở mình phải tự rước lấy. Làm thân hèn hạ như vậy năm trăm lần sống thác. Lại sinh vào loài quỷ đói. Ở trong

(Trang 238)

Ngạ quỷ gặp được thiện tri thức các vị đại Bồ Tát quở trách nói rằng:
“Người ở trong vô lượng đời về trước đã tạo ra vô lượng tội, phỉ báng Tam Bảo, không tin nhân quả nên đọa trong A tỳ địa ngục, chịu nhiều khổ não không thể kể xiết. Nay ngươi nên phát tâm từ bi”.
Bấy giờ các Ngạ quỷ nghe lời ấy rồi liền xưng Nam mô Phật.
Nhờ sức hồng ân của chư Phật, liền được mạng chung, sinh lên cõi trời tứ thiên. Sinh lên đó rồi, ăn năn tự trách, phát tâm Bồ đề.
Tâm quang của các chư Phật không bỏ những người phát tâm này, thâu nhiếp những người phát tâm như vậy và thương mến như La Hầu La. Dạy bảo tránh xa địa ngục, không cho thân sa đọa như quý tròng con mắt.
Phật bảo Đại vương: “Muốn biết hào quang chư Phật thường chiếu nơi nào thì hãy xem hào quang ấy thường chiếu những nơi chúng sinh đau khổ như vậy không gián đoạn, không người cứu vớt. Tâm Phật thường biết nơi đâu? Thường biết những nơi chúng sinh chịu hành phạt cực hình,

(Trang 239)

cực ác như vậy. Vậy đem tâm Phật mà trau giồi tâm mình, trải qua nhiều số kiếp, khiến các người ác kia phát tâm Bồ đề”.
Hôm nay đại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng nghe Phật Thế Tôn nói các thống khổ như trên thì gia tâm giữ ý, chớ sinh lòng buông lung. Nếu đại chúng không siêng năng lập phương tiện tu hành Bồ Tát đạo thì ở trong mỗi địa ngục đều có tội phần.
Ngày nay đại chúng nên vì hết thảy chúng sinh hiện đang chịu thống khổ trong A tỳ địa ngục, vì hết thảy chúng sinh sẽ chịu thống khổ trong A tỳ địa ngục, và rộng ra cho đến hết thảy chúng sanh hiện chịu, và sẽ chịu vô cùng vô tận thống khổ trong hết thảy địa ngục ở mười phương mà đầu thành đảnh lễ quy y Thế gian Đại Từ Bi phụ:
Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Quá Khứ Thất Phật.
Nam mô Thập Phương Thập Phật.
Nam mô Tam Thập Ngũ Phật.
Nam mô Ngũ Thập Tam Phật.

(Trang 240)

Nam mô Bách Thất Thập Phật.
Nam mô Trang Nghiêm Kiếp Thiên Phật.
Nam mô Hiền Kiếp Thiên Phật.
Nam mô Tinh Tú Kiếp Thiên Phật.
Nam mô Thập Phương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Thập Nhị Bồ Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Vô biên Thân Bồ Tát.
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát.
Lại xin quy y mười phương tận hư không giới vô lượng hình tượng:
Tượng vàng và tượng chiên đàn của vua Ưu Điền.
Tượng đồng của vua A Dục.
Tượng đá của Ngô Trung.
Tượng ngọc của nước Sư Tử.
Tượng vàng, tượng bạc, tượng lưu ly, tượng san hô, tượng hổ phách, tượng xa cừ, tượng mã não, tượng trân châu, tượng ma ni, tượng vàng tử ma thượng sắc diêm phù đàn ở trong các quốc độ. (1 lạy)
Lại quy y hết thảy các tháp thờ tóc của mười phương Phật.
Quy y hết thảy các tháp thờ hàm răng.
Quy y hết thảy các tháp thờ răng.

(Trang 241)

Quy y hết thảy các tháp thờ móng tay.
Quy y hết thảy các tháp thờ xương trên đảnh.
Quy y hết thảy các tháp thờ xá lợi trong thân.
Quy y hết thảy các tháp thờ cà sa.
Quy y hết thảy các tháp thờ muỗng, bình bát.
Quy y hết thảy các tháp thờ bình tắm rửa.
Quy y hết thảy các tháp thờ tích trượng.
Quy y hết thảy các nơi làm Phật sự như vậy. (1 lạy)
Lại quy y nơi tháp Phật giáng sinh. Quy y tháp Phật đắc đạo.
Quy y tháp Phật chuyển pháp luân. Quy y tháp Phật nhập Niết bàn.
Quy y tháp Phật Đa Bửu và tám vạn bốn ngàn tháp của vua A Dục tạo ra. Quy y tháp trên trời, tháp ở nhân gian và tất cả bảo tháp ở trong cung Long Vương. (1 lạy)
Lại quy y như vậy mười phương tận hư không giới, hết thảy chư Phật.
Quy y mười phương tận hư không giới hết thảy Tôn Pháp.

(Trang 242)

Quy y mười phương tận hư không giới hết thảy Hiền Thánh Tăng. (1 lạy)
Nguyện xin Tam Bảo đồng đem từ bi lực, an ủi chúng sanh lực, vô lượng đại tự tại lực, vô lượng đại thần thông lực, thâu nhiếp thọ lãnh chúng con, ngày nay sám hối thế cho hết thảy chúng sinh đang chịu khổ trong A tỳ đại địa ngục, sám hối thế rộng ra cho đến hết thảy chúng sinh trong tất cả địa ngục ở tất cả địa ngục ở mười phương, nhiều không thể kể xiết. Sám hối thế cho cha mẹ, sư trưởng và tất cả bà con quyến thuộc. Nguyện xin Tam Bảo dùng nước đại bi tẩy trừ tội lỗi cho hết thảy chúng sinh hiện đang chịu khổ trong A tỳ địa ngục và trong những địa ngục khác, khiến chúng sinh được thanh tịnh.
Nguyện xin Tam Bảo tẩy trừ tội lỗi cho chúng sinh, hiện đồng sám hối trong đạo tràng hôm nay; tẩy trừ tội lỗi cho tất cả cha mẹ, sư trưởng, cho hết thảy bà con quyến thuộc của chúng con, khiến tội lỗi được thanh tịnh.
Lại xin tẩy trừ tội lỗi cho tất cả chúng sinh trong sáu đường, khiến chúng sinh thẳng đến đạo tràng hoàn toàn thanh tịnh.

(Trang 243)

Từ nay trở đi cho đến ngày thành Phật, chúng sinh đều đoạn trừ được hết khổ não trong A tỳ địa ngục. Rộng ra nữa là đoạn trừ hết thảy thống khổ nhiều không thể nói, không thể nói trong các địa ngục, ở mười phương tận hư không giới. Chúng sinh ấy rốt ráo không còn đọa trở lại trong ba đường ác, rốt ráo không còn đọa trở lại trong các địa ngục. Rốt ráo không còn tạo trở lại mười ác nghiệp; không còn tạo trở lại năm tội nghịch để chịu khổ não. Tất cả các tội, nguyện đều tiêu diệt, bỏ sống địa ngục, được sống Tịnh độ, bỏ mạng địa ngục, được mạng trí huệ, bỏ thân địa ngục, được thân Kim cang, bỏ khổ địa ngục, được vui Niết bàn; nhớ khổ địa ngục, phát tâm Bồ đề, tứ đẳng lục độ thường được hiện tiền; tứ biện lục thông đều được tự tại như ý; đầy đủ trí huệ tu đạo Bồ Tát, dõng mãnh tinh tấn, không thôi không nghỉ, tu hành mãi lên cho đến mãn hạnh Thập địa vào tâm Kim cang, thành đẳng Chánh giác để trở lại đời này, độ thoát hết thảy chúng sinh trong mười phương.

(Trang 244)

Hôm nay đại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng còn có các địa ngục khác, chịu khổ rất phức tạp, không thể ghi chép. Danh hiệu như vậy, khổ sở vô cùng, đại chúng giở xem trong kinh sẽ thấy rõ việc ấy.
Trong kinh Phật dạy rằng: “Một niệm ác của vua Diêm Vương sinh ra đủ các việc trong địa ngục. Tự thân Diêm Vương chịu khổ cùng không thể kể xiết”.
Diêm La Đại Vương xưa kia là vị Tỳ Sa quốc vương, nhân vì cùng với Duy Đà thủy chúa chiến đấu thất bại, bèn lập thệ nguyện: “Nguyện ta đời sau làm chủ ngục trị tội nhân vậy”.
Mười tám vị đại thần và trăm vạn tùy tùng đồng phát nguyện như vậy.
Tỳ Sa vương ấy nay là Diêm La vương, mười tám vị đại thần kia, nay là mười tám ngục vương vậy.
Trăm vạn chúng tùy tùng nay là ngưu đầu ngục tốt vậy.
Bọn quan thuộc này đều lệ thuộc Bắc phương Tỳ Sa Môn thiên vương.
Kinh Trường A Hàm chép:

(Trang 245)

“Chỗ ở của Diêm La Đại vương, tại Diêm phù đề trong núi Kim cang, về phương Nam, vương cung dài rộng sáu ngàn do tuần”. Kinh Đại Địa Ngục dạy rằng: “Thành quách cung vua Diêm vương, ở trong địa ngục rộng dài ba vạn dặm; dùng sắt và đồng mà xây dựng”.
Ngày đêm ba thời có chảo đồng lớn đựng đầy nước đồng sôi, tự nhiên để phía trước vua. Có ngục tốt to lớn nằm trên giường sắt nóng của vua, lấy móc sắt đánh miệng vua, rót nước đồng sôi vào miệng vua. Từ yết hầu trở xuống đều cháy tiêu tan. Các Đại thần kia cũng phải chịu khổ như vậy.
Mười tám ngục vương ấy tên là:
1. Ca Diên giữ ngục Nê lê.
2. Khuất Tôn giữ ngục Đạo sơn.
3. Phí Thọ giữ ngục Phí sa.
4. Phí Khúc giữ ngục Phất sí.
5. Ca Thế giữ ngục Hắc nhĩ.
6. Hạp Sai giữ ngục Hỏa xa.
7. Than Vị giữ ngục Hoạch than.
8. Thích Ca Nhiên giữ ngục Thiết sàng
9. Ác Sinh giữ ngục Hạp sơn
10. Thân Ngâm giữ ngục Hàn băng.

(Trang 246)

11. Tỳ Ca giữ ngục Bác bì.
12. Diêu Đầu giữ ngục Súc sinh.
13. Đề Bạt giữ ngục Đao binh.
14. Di Đại giữ ngục Thiết ma.
15. Duyệt Đầu giữ ngục Khôi hà.
16. Xuyên Cốt giữ ngục Thiết sách.
17. Danh Thân giữ ngục Thơ trùng.
18. Quán Thân giữ ngục Dương đồng.
Những ngục như vậy đều có vô lượng địa ngục khác làm quyến thuộc; mỗi ngục đều có chủ ngục. Ngưu đầu ngục tốt tánh tình bạo ngược không có một mảy từ tâm. Thấy chúng sanh chịu ác báo như vậy chỉ sợ chúng sinh không khổ mà thôi. Nếu hỏi ngục tốt:
“Chúng sinh chịu khổ như vậy rất đáng thương xót, sao các ngươi thường cứ ôm lòng độc ác khốc liệt, không chút thương tâm?”
Ngục tốt liền đáp:
“Những người chịu khổ ấy tội ác như thế này: “Bất hiếu với cha mẹ, bài báng Phật Pháp Tăng, chê bai Thánh Hiền, nhục mạ lục thân, khinh mạn sư trưởng, hủy hoại tất cả, nói lời độc ác, nói lời hai lưỡi, nịnh hót,

(Trang 247)

tật đố, chia rẽ tình cốt nhục của người, giận hờn nóng nẩy, sát hại tham dục, dối gạt khinh khi, tà mạng, tà cầu, lại do vì tà kiến, giải đãi buông lung, gây kết nhiều thù oán”.
Những người như vậy, đến đây chịu khổ rồi, mỗi khi được thoát ra chúng tôi thường khuyên bảo rằng: “Ở đây cực khổ lắm, không thể chịu được. Các người nay được ra rồi chớ nên tạo tội mà phải trở vào đây nữa”.
Nhưng các tội nhân ấy không chịu chừa bỏ ăn năn, ngày nay ra rồi thoạt vậy lại vào.
Lần lựa luân hồi, không biết thống khổ, làm cho chúng tôi phải mỏi mệt vì các chúng sinh ấy. Kiếp này kiếp khác, cứ đối đầu nhau mãi. Vì duyên cớ ấy nên chúng tôi đối với tội nhân không có chút thương tâm, mà còn cố ý làm cho khổ sở thêm nữa.
Chúng tôi mong sao họ biết khổ, biết hổ, biết thẹn, không trở lại đây nữa.
Nhưng chúng tôi xem các chúng sinh ấy thật là chỉ khổ mà không chịu tránh, không chí quyết làm lành để vào Niết bàn.

(Trang 248)

Họ đã là vật vô tri, không biết tránh khổ tìm vui, sở dĩ họ phải chịu đau khổ hơn ở nhân gian, thì làm sao chúng tôi có thể dung thứ mà sinh tâm thương được.
Hôm nay đại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng hãy đem việc lao ngục ở thế gian mà so sánh thì có thể biết ngay, tin chắc rằng việc này không phải là luống dối.
Giả sử có người ba phen đến cửa ngục tuy bà con thân tộc nhưng thấy người ấy cứ vào ra cửa ngục mãi cũng đã chán ngán, không có lòng buồn thương. Huống gì ngưu đầu ngục tốt thấy các chúng sinh đã ra lại vào để chịu thống khổ mãi mãi.
Vậy đã thoát khỏi địa ngục rồi thì nên tu tâm dưỡng tánh, cải cách tập quán. Nếu không chừa bỏ thì nhiều kiếp chìm trong biển khổ. Đã vào trong ấy rồi, cứ thứ lớp mà qua, hết khổ này đến khổ khác, không bao giờ dừng nghỉ
Vì vậy nên oán thù ba đời, nhân quả theo nhau, hai vừng thiện ác chưa từng tạm nghỉ. Việc báo ứng trình bày rõ ràng rất dễ trông thấy. Làm ác gặp khổ, lấy ác trả ác, ở trong địa ngục cùng năm mãn kiếp, chịu

(Trang 249)

thống khổ đủ điều. Hết tội địa ngục lại làm súc sinh. Hết tội súc sinh lại làm quỷ đói; trải qua vô lượng sanh tử, vô lượng thống khổ.
Như thế đại chúng há có thể không lo tu hành Bồ Tát đạo cho kịp thời sao!
Chúng con ngày nay, nhất tâm đầu thành đảnh lễ Tam Bảo, nguyện vì hết thảy chúng sinh trong đường địa ngục, ngục vương, đại thần, ngưu đầu, ngục tốt và quyến thuộc của chúng khắp mười phương, nguyện vì hết thảy chúng sinh trong đường ngạ quỷ, ngạ quỷ vương, ngạ quỷ thần v.v… và quyến thuộc của ngạ quỷ ở khắp mười phương; nguyện vì hết thảy chúng sinh trong đường súc sinh, súc sinh thần v.v… và quyến thuộc của súc sinh khắp mười phương; rộng ra nguyện vì hết thảy chúng sinh vô cùng vô tận trong mười phương mà cầu xin sám hối, cải vãng tu lai, không làm ác nữa. Những tội đã làm nguyện xin diệt trừ, những tội chưa làm thề không dám làm.
Nguyện xin hết thảy chư Phật trong mười phương dùng bất khả tư nghị tự tại thần lực gia tâm cứu hộ thương xót nhiếp

(Trang 250)

thọ, khiến tất cả chúng sinh tức thời giải thoát.
Nguyện xin quy y thế gian Đại Từ Bi phụ:
Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Hoa Nhật Phật.
Nam mô Quân Lực Phật.
Nam mô Hoa Quang Phật.
Nam mô Nhơn Ái Phật.
Nam mô Đại Oai Đức Phật.
Nam mô Phạm Vương Phật.
Nam mô Vô Lượng Minh Phật.
Nam mô Long Đức Phật.
Nam mô Kiên Bộ Phật.
Nam mô Bất Hư Kiến Phật.
Nam mô Tinh Tấn Đức Phật.
Nam mô Thiện Thủ Phật.
Nam mô Hoan Hỷ Phật.
Nam mô Bất Thối Phật.
Nam mô Sư Tử Tướng Phật.
Nam mô Thắng Tri Phật.
Nam mô Pháp Thị Phật.
Nam mô Hỷ Vương Phật.
Nam mô Sa Ngự Phật.

(Trang 251)

Nam mô Ái Tác Phật.
Nam mô Đức Tý Phật.
Nam mô Hương Tượng Phật.
Nam mô Quán Thị Phật.
Nam mô Vân Âm Phật.
Nam mô Thiện Tư Phật.
Nam mô Sư Tử Phan Bồ Tát.
Nam mô Sư Tử Tác Bồ Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Vô Biên Thân Bồ Tát.
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát.
Lại quy y như vậy mười phương tận hư không giới hết thảy Tam Bảo. Nguyện xin Tam Bảo rũ lòng từ bi, tự tại thần lực cứu vớt chúng sinh trong đường địa ngục, ngục vương, đại thần và quyến thuộc của các vị ấy cùng mười tám địa ngục.
Mười tám ngăn địa ngục này đều có nhiều địa ngục khác làm quyến thuộc.
Nguyện xin Tam Bảo cứu vớt hết thảy ngưu đầu ngục tốt và tất cả chúng sinh chịu khổ trong đường địa ngục, khiến các chúng sinh ấy đều được giải thoát. Tội nhân khổ quả đồng thời tiêu diệt. Từ nay trở đi, rốt ráo vĩnh viễn đoạn trừ hết nghiệp địa ngục,

(Trang 252)

rốt ráo không đọa trong ba đường ác, bỏ sống địa ngục, được sống Tịnh độ, bỏ mạng địa ngục, được mạng trí huệ, bỏ thân địa ngục, được thân Kim cang, bỏ khổ địa ngục được vui Niết bàn. Nhớ khổ địa ngục, phát tâm Bồ đề; tứ đẳng lục độ thường được hiện tiền. Tứ biện lục thông như ý tự tại.
Dõng mãnh tinh tấn, không thôi không nghỉ, tiến lên cho đến mãn hạnh thập địa, trở lại độ thoát hết thảy chúng sinh, đồng nhập Kim cang, thành đẳng Chánh giác.

Từ Bi Ðạo Tràng Sám Pháp Quyển Thứ Tư

Hết

3.119 lượt xem
22/08/2021

Bình luận (1)

  1. N
    N

    Nguyễn Thị Luyên

    23/08/2021

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni 🙏. Con xin thành kính tri ân công đức trên Sư Phụ cùng Chư Tôn Đức Tăng cùng Cô CN CLBCV ạ 🙏🙏🙏

Xem nhiều nhất trong chuyên mục