Giới thiệu về Website

Trang web phamthiyen.com là nơi đăng tải những bài viết, video hướng dẫn cách áp dụng Phật Pháp: giáo lý nhân quả và tâm linh vào cuộc sống bằng phương pháp tâm linh của đạo Phật.

Phạm Thị Yến

Bài kinh: Đức Thế Tôn có tâm đại bi hay không?

Đại đức Na-tiên là bậc A-la-hán đã giải nghi những nạn vấn của vua Mi-lan-đà – một vị vua có kiến thức uyên thâm, sâu rộng, đã từng vấn đáp với rất nhiều đạo giáo khiến các vị giáo chủ phải khiếp sợ.
Với trí tuệ siêu phàm của bậc A-la-hán, Ngài Na-tiên đã chiết phục được nhà vua. Cuộc đối thoại lại được tiếp tục:

– Vua Mi-lan-đà hỏi: Thưa đại đức, Đức Thế Tôn hằng đem lại điều lợi ích cho chư thiên và nhân loại; ngài có tâm đại bi, hằng tế độ cho chúng sanh trời, người, nam, nữ… là điều chắc thật đấy chứ ạ?

– Đại đức Na-tiên đáp: Quả đúng vậy.

– Vua Mi-lan-đà hỏi: Đề-bà-đạt-đa chính do Đức Thế Tôn cho xuất gia?

– Đại đức Na-tiên đáp: Phải rồi, Đề-bà-đạt-đa được Đức Phật cho xuất gia một lần cùng với năm vị khác trong hoàng tộc là Bạt-đề (Bhaddiyà), A-nậu-lâu-đà (Anuruddha), A-nan (Ànanda), Ba-da (Bhagu), Kiếp-bà-la (Kimabila)! Có thêm người thợ hớt tóc Ưu-ba-ly (Upàli) nữa là bảy người, tâu đại vương!

– Vua Mi-lan-đà hỏi: Thưa đại đức, Đức Thế Tôn là bậc Toàn Giác, không có việc gì trên thế gian mà ngài hướng tâm đến lại không biết; thế khi Đức Thế Tôn cho Đề-bà-đạt-đa xuất gia, ngài có biết rằng sau này Đề-bà-đạt-đa âm mưu chia rẽ Tăng chăng?

– Đại đức Na-tiên đáp: Đức Thế Tôn có biết rõ như vậy, tâu đại vương!

– Vua Mi-lan-đà hỏi: Trẫm có nghe rằng, trong phápluật của Đức Thế Tôn, là tỳ khưu ni, sa di hoặc sa di ni đều không thể chia rẽ Tăng được, chỉ có tỳ khưu mới chia rẽ Tăng được, có phải vậy chăng?

– Đại đức Na-tiên đáp: Đúng vậy! Chỉ có tỳ khưu cùng cộng trú, cùng làm lễ phát lồ mới hội đủ điều kiện chia rẽ Tăng. Không phải là tỳ khưu không thể chia rẽ Tăng được. Đại vương hiểu rất chính xác.

– Vua Mi-lan-đà hỏi: Người chia rẽ Tăng thì ác nghiệp, tội báo sẽ như thế nào, thưa đại đức?

– Đại đức Na-tiên đáp: Bị đọa địa ngục chịu thống khổ chừng một kiếp.

– Vua Mi-lan-đà hỏi: Đức Thế Tôn cho Đề-bà-đạt-đa xuất gia làm tỳ khưu, Đức Thế Tôn lại rõ biết sau này vị tỳ khưu ấy chia rẽ Tăng. Thế Đức Thế Tôn có biết là sau khi tạo ác nghiệp chia rẽ Tăng rồi, Đề-bà-đạt-đa sẽ bị đốt cháy trong địa ngục a-tỳ lâu chừng một kiếp chăng?

– Đại đức Na-tiên đáp: Đức Thế Tôn càng biết rõ điều ấy.

– Vua Mi-lan-đà nói: Thưa đại đức! Chính đại đức đã xác định rằng Đức Thế Tôn cho Đề-bà-đạt-đa xuất gia, xuất gia rồi ông ta sẽ chia rẽ Tăng, chia rẽ Tăng ông ấy tạo ác nghiệp chịu quả báo bị thiêu đốt ở địa ngục a-tỳ lâu chừng một kiếp. Ở đây, vấn đề này sẽ nẩy sinh hai khía cạnh mà ngoại đạo sẽ đem ra dị luận, có hại cho Đức Thế Tôn. Thứ nhất, nếu Đức Thế Tôn chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra cho Đề-bà-đạt-đa trong tương lai – thì rõ Đức Thế Tôn không phải là “bậc Toàn Giác”. Thứ hai, nếu Đức Thế Tôn biết rõ quả báo thống khổ mai sau của Đề-bà-đạt-đa thì Đức Thế Tôn tuy là bậc Toàn Giác nhưng ngài lại thiếu tâm đại bi. Vậy cái gọi là Đức Phật có mặt ở đời hằng đem đến hạnh phúc và an vui cho chư thiên và loài người, là điều hoàn toàn cần phải xét lại! Xin đại đức hãy vì người học Phật trong mai hậu, dùng trí tuệ mà đem đèn sáng đặt vào bóng tối để xóa tan mọi nghi nan của trẫm thì trẫm tri ân lắm vậy!

– Đại đức Na-tiên đáp: Đại vương, những nghi nan của đại vương là có cơ sở, tuy nhiên, vì Đức Thế Tôn là bậc Toàn Giác, ngài có sự thấy biết về quá khứ, vị lai là bất khả tư nghì. Ngài thấy biết rằng, nếu Đề-bà-đạt-đa mà sống đời tại gia thì y sẽ tạo ác nghiệp với khổ báo không thể nghĩ lường. Đề-bà-đạt-đa xuất gia, được gieo duyên với giáo pháp, được phước báu thanh tịnh hỗ trợ; nên khi bị trả quả chia rẽ Tăng, ông ta chỉ thọ báo quả địa ngục a-tỳ lâu chừng một kiếp, sau đó ông ta sẽ đắc quả Độc Giác Phật hiệu là At-thi-sa-ra. Trái lại, nếu Đề-bà-đạt-đa không tu tỳ kheo thì ông ta sẽ bị thiêu, bị nấu từ địa ngục này sang địa ngục khác; hết khổ địa ngục, ông ta rơi vào hàng trăm kiếp làm ngạ quỷ, rồi làm a-tu-la với thời gian không đếm được. Và do đó, được thiện báo thọ sanh làm người đã khó khăn huống hồ chứng quả Phật Thánh. Đại vương nghĩ thế nào, vậy bậc Toàn Giác là bậc đại bi hay không phải đại bi?

– Vua Mi-lan-đà nói: Quả đúng vậy, nếu sự thật như thế thì tâm đại bi của Đức Thế Tôn là bất khả tư lường. Tuy nhiên, ngoại đạo cũng có cách nói của họ mà sự hữu lý xem ra ta chẳng nên xem thường…

– Đại đức Na-tiên đáp: Đại vương cứ nói!

– Vua Mi-lan-đà hỏi: Vâng, ngoại đạo sẽ châm biếm, mỉa mai rằng: “Ông Phật Tổ Cồ đàm khéo thật! Ông đánh Đề-bà-đạt-đa sưng mày sưng mặt rồi ông kêu lại, dịu dàng đấm bóp, xoa dầu cho! Ổng xô Đề-bà-đạt-đa té sấp, té ngữa rồi đến dỗ dành, ẵm bồng ra chiều từ ái. Ổng giết Đề-bà-đạt-đa chết rồi cho tái sanh làm người mới! Ổng để cho Đề-bà-đạt-đa thọ khổ chán chê rồi sau đó mới cho hưởng hạnh phúc, an vui!” Đại đức sẽ trả lời thế nào về điều ấy?

– Đại đức Na-tiên đáp: Dễ dàng thôi, tâu đại vương! Cứ lý ấy của ngoại đạo sẽ bị tác dụng ngược lại khi ta chỉ cần đặt cho họ vài câu hỏi.

– Vua Mi-lan-đà nói: Vâng, trẫm đang chú tâm lắng nghe đây.

– Đại đức Na-tiên đáp: Đại vương hãy hỏi họ rằng: khi người mẹ dùng roi đánh đứa con một của mình – thì do bà ấy thương con hay ghét con?

– Vua Mi-lan-đà nói: Thưa, người mẹ nào lại không thương con, nhất là đứa con một thì tình thương kia lại càng dạt dào, vô lượng. Sở dĩ bà phải đánh con là mong nó chừa bỏ một vài tật hư, tánh xấu nào đó; chỉ mong nó trở nên người lành, người tốt mà thôi!

– Đại đức Na-tiên đáp: Tâm đại bi của Đức Thế Tôn đối với chúng sanh, đối với Đề-bà-đạt-đa cũng như người mẹ đối với con một của mình đấy, tâu đại vương!

– Vua Mi-lan-đà nói: Hay lắm! Đại đức hãy cho nghe thêm ví dụ nữa.

– Đại đức Na-tiên hỏi: Vâng, ví như đại vương là bậc minh quân của thiên hạ, trí bi gồm đủ; xử phạt, khen thưởng đều nghiêm minh, công bằng; tình lý đều cân phân, trọn vẹn. Bần tăng có nghe rằng, trong các khung hình phạt của đại vương đặt ra, có một tội ác được gọi là “tội nên cảnh cáo, tội nhằm để ngăn ngừa”, bần tăng không rõ lý do làm sao mà đại vương đặt ra khung hình phạt ấy?

– Vua Mi-lan-đà nói: Thưa, đấy là phạt tội nhẹ để ngăn ngừa tội nặng, ví như cắt xẻ một cái ung nhỏ, thà đau đớn chút ít nhưng ngăn ngừa được cái bệnh chết người trong mai hậu!

– Đại đức Na-tiên đáp: Cũng vậy là trường hợp Đức Phật cho phép Đề-bà-đạt-đa xuất gia, biết chia rẽ Tăng sẽ đọa địa ngục. Thà để cho Đề-bà-đạt-đa chịu đau khổ chút ít mà ngăn ngừa được khổ báo nặng nề nếu ông ta sống đời tại gia, tâu đại vương! Giới và định trong thời gian Đề-bà-đạt-đa xuất gia sẽ giúp cho ông ta sớm thoát khỏi khổ ách và sẽ thành Phật Độc Giác trong ngày vị lai.

– Vua Mi-lan-đà hỏi: Đại đức còn ví dụ nào về điều ấy nữa không?

– Đại đức Na-tiên đáp: Có chứ! Ví như có một tội nhân thụ án phải bị chặt đầu. Khi ấy có một vị quan thân tín của đại vương, được đại vương sủng ái, tin cậy, thường được đại vương ban cho nhiều đặc ân; tỏ vẻ tội nghiệp cho tội nhân ấy, bèn xin đại vương tha cho tội xử trảm, chỉ chặt một tay của người ấy thôi. Tâu đại vương! Theo ý đại vương thì vị quan ấy có thiện tâm hay ác tâm? Có tội lỗi hay không có tội lỗi?

– Vua Mi-lan-đà nói: Y là người tốt sao gọi rằng có tội được!

– Đại đức Na-tiên đáp: Đức Thế Tôn cũng ví như vị quan ấy, vì không nỡ để Đề-bà-đạt-đa thọ khổ lâu dài, tội báo kinh khiếp nên ngài tạo hoàn cảnh cho ông ta chỉ trả quả đau khổ chút ít. Vị quan là người tốt, có lòng từ thì Đức Thế Tôn quả là có tâm đại bi, tâu đại vương!

– Vua Mi-lan-đà hỏi: Thật ra, ví dụ là để hiểu rõ thêm vấn đề thôi, chứ theo định luật nhân quả thì ai làm người ấy chịu, có phải thế không, đại đức?

– Đại đức Na-tiên đáp: Đúng thế, tâu đại vương! Tuy nhiên, những hỗ trợ duyên bên ngoài cũng tác động và quyết định cho nhân kia được thành quả hay không được thành quả; có quả lớn hoặc quả nhỏ, quả được tăng trưởng hay quả bị hủy hoại! Kẻ tội phạm kia theo lẽ bị chặt đầu nhưng do nghịch duyên, có vị quan kia can thiệp nên quả trổ bị nhẹ đi. Đề-bà-đạt-đa đáng lẽ ra phải bị tội báo nặng hơn, nhưng nhờ giới định một thời hỗ trợ; vào phút cuối cùng lại có tâm hướng thiện hồi đầu, niệm ân đức của Đức Phật, đặt đức tin nơi Đức Phật; do vậy, thiện quả sẽ trổ sanh trong ngày vị lai cũng không lạ lùng gì. Sự vận hành ấy đúng với định luật nhân, duyênquả cả vậy. Đại vương có nghi ngờ gì nữa chăng? Và ngoại đạo còn có thể dùng lý lẽ gì để xuyên tạc nữa chăng?

– Vua Mi-lan-đà nói: Về câu hỏi này thế là đã được giải đáp một cách trọn vẹn, thưa đại đức. Bọn ngoại đạo thật không còn kẽ hở nào để chúng thò lý luận của chúng vào đấy được nữa!

Buổi luận đàm giữa hai bậc trí giả hôm đó được kết thúc như vậy. Vua Mi-lan-đà lòng tràn đầy hoan hỷ, với những thắc mắc đã được sáng tỏ.

Trích soạn trong Kinh Mi Tiên Vấn đáp – câu 92
Dịch giả: Hòa Thượng Giới Nghiêm

5.995 lượt xem
10/09/2021

Bình luận (4)

  1. T
    T

    Trần Thị Xoan

    15/09/2021

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.
    Em xin thành kính tri ân công đức của Cô ạ

  2. Đ
    Đ

    Đinh Thị Huê

    15/09/2021

    Con xin tri ân công đức Cô chủ nhiệm ạ.

  3. Đ
    Đ

    Đỗ Thị Kim Ánh

    15/09/2021

    Cuộc đối thoại của vua và đại đức thật là hay để cho chúng con thấu hiểu được lòng từ của Đức Phật quả thật là vô lượng

  4. T
    T

    Trịnh Thị Hoà

    12/09/2021

    Em xin kính tri ân công đức Cô CN ạ. Xin tuỳ hỷ tán thán công đức Ban Văn hoá, Ban Thông tin đã gửi bài ạ. Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Xem nhiều nhất trong chuyên mục