5 Pháp Quán: Ta là chủ nhân của nghiệp đưa đến an ổn, giải thoát | Trạch Pháp ngày 03/11/Nhâm Dần

Quán về chánh tri kiến - Dứt trừ nghi ngờ, phát sinh tinh tấn.

1. Quán “Ta là chủ nhân của nghiệp”:
- Có phải chính ta là người suy nghĩ để tác thành ý nghiệp không?
- Có phải chính ta là người nói để tác thành khẩu nghiệp không?
- Có phải chính ta là người làm mọi việc thiện, ác để tác thành thân nghiệp không?
=> Khẳng định: "Ta là người tự tác thành nghiệp, ta là chủ nhân của nghiệp", đó là sự thật, là tri kiến đúng đắn.

2. Quán "Ta là thừa tự nghiệp":
a. Nhân quả hiện tại:
- Có phải chính ta bị bất an khi đang bị các suy nghĩ тнù нằп chi phối không?
- Có phải chính ta sẽ được an lạc khi đang có suy nghĩ thiện mong muốn cho mình, cho người điều tốt đẹp không?
- Có phải chính ta trước, trong và sau khi dùng các lời nói ác khẩu, nói dối,… thì tâm sẽ có cảm thọ không được thoải mái, an lạc không?
- Có phải chính ta khi thân làm việc bất thiện: uống гượц ѕаү ѕưа, пgніệп пgậр, đáпн сướр, тà dâм,… sẽ đem đến sự nguy hại cho chính thân và tâm của chúng ta không?

b. Nhân quá khứ, quả hiện tại:
- Có phải trong một sự việc hoặc hiện tượng, thì mỗi người sẽ có suy nghĩ, lời nói, hành xử khác nhau không?
- Có phải trong gia đình, mỗi người sẽ có sự thay đổi về hoàn cảnh sống (công danh, tài sản, vợ chồng, con cái) khác nhau không?
- Có phải trong một lớp học, mỗi người sẽ có sự thay đổi về hoàn cảnh sống (công danh, tài sản) khác nhau không?
- Có phải sự thay đổi tốt lên hay xấu đi của mình sau này được quyết định từ sự duy trì các hành vi tốt (tích cực) hoặc xấu (тіêц сựс) của thân, khẩu, ý không?

=> Khẳng định: Ta là thừa tự của nghiệp do chính ta đã tạo tác.

3. Quán "Nghiệp là тнаі тạпg, là quyến thuộc, là điểm tựa":
- Ta là người tác thành nghiệp; sau đó, ta lại là người thừa tự nghiệp, tức là ta thừa tự cái nghiệp nó sinh ra ta (vào nhà giàu, nghèo; đẹp, xấu; khoẻ, bệnh;… đất nước này, kia;…) trong kiếp sau có đúng không?

=> Khẳng định:
- Quan điểm (thuyết) có vị giáo chủ, thế giới chủ, quyền chủ nào đó tạo ra chúng ta, ban phát phước lộc cho chúng ta hay trừng phạt chúng ta khi chúng ta không làm theo lời dạy của các vị đó, là quan điểm (thuyết) sai, không đúng đắn, không đúng sự thật. Gọi là tà thuyết, tà đạo, là tri kiến sai lầm. Thấy biết là đúng sự thật, là chánh kiến.

4. Thâm nhập chánh kiến:
- Khi thấy biết rõ sự thật về sự sinh ra, tồn tại (sướng, khổ) rồi снếт đi lại tiếp tục sinh ra… như vậy gọi là có chánh kiến.
- Thực hành chánh kiến gọi là thâm nhập chánh kiến.
- Hiện tại đang nỗ lực thực hành chánh kiến thế nào:
+ Học Pháp để tăng trưởng các chi phần chánh kiến
+ Giới
+ Pháp lục hòa

5. Hoan hỷ:
- Tư duy về những мê lầm và những khổ đau (lo sợ, hoang mang, phụ thuộc, bị sai xử…) khi chưa có chánh kiến.
- Tư duy về sự tự tại, vững tâm, tinh tấn thực hành thiện pháp để được hoặc đã được chuyển nghiệp, bớt khổ, an ổn hơn.

6. Tri ân:
- Khởi tâm tri ân Tam Bảo, Sư Phụ, chư Tăng.
- Khởi tâm tri ân các bậc thiện hữu tri thức đã giúp đỡ và đồng hành với mình.

385 lượt xem
26/11/2022

Bình luận

Phản hồi cho Hủy bỏ