Phạm Thị Yến

Tâm Chiếu Hoàn Quán

Giới thiệu về Website

Trang web phamthiyen.com là nơi đăng tải những bài viết, video hướng dẫn cách áp dụng Phật Pháp: giáo lý nhân quả và tâm linh vào cuộc sống bằng phương pháp tâm linh của đạo Phật.

Phạm Thị Yến

TỪ BI THỦY SÁM PHÁP

LỜI NÓI ĐẦU
Quyển sám Từ Bi Thủy Sám Pháp do chùa Ba Vàng biên soạn lấy từ bản gốc do cố Hòa thượng Thích Huyền Dung dịch. Phần nghi thức đầu và cuối đã được biên soạn thay đổi so với bản gốc, phù hợp với nghi thức lễ của chùa Ba Vàng.

(Bản gốc)
“Tội từ tâm khởi cũng từ tâm diệt
Tội diệt tâm không cả hai đều hết.”

“Nguyện Nghiệp chướng, Báo chướng
Phiền não chướng, ba chướng tiêu trừ,
Nguyện Tân duyên, Cựu duyên,
Oan trái duyên, mọi duyên giải thoát.”

DUYÊN KHỞI
Thiết nghĩ ngoài những kinh, luận, luật của thành giáo đã phiên dịch, nhiều sách vở của hiền nhân soạn về sau đều do nơi sự cảm ứng mà làm ra cả. Nếu riêng từng phẩm loại mà nói thì không dễ gì kể ra cho hết được. Ngay như bản linh văn này mà gọi là Thủy Sám, tôi xin nói rõ đến căn do.

Thuở xưa về triều vua Đường Ý Tôn có một vị quốc sư hiệu là Ngộ Đạt, tên là Tri Huyền. Lúc chưa hiển đạt, ngài thường gặp gỡ một nhà sư đất Kinh Sư trong một ngôi chùa nọ. Nhà sư ấy mắc bệnh ca ma la (bệnh cùi) ai cũng gớm, chỉ có ngài Tri Huyền là thường gần gũi hỏi han, không hề nhàm chán. Nhân khi chia tay, nhà sư vì quá cảm kích phong thái của ngài Tri Huyền mới dặn rằng:
– Sau này ông có nạn chỉ nên qua núi Cửu Lũng tại Bành Châu đất Tây Thục tìm tôi và nhớ trên núi ấy có hai cây tùng làm dấu chỗ tôi trú ngụ.

Sau đó ngài Ngộ Đạt quốc sư đến ở chùa An Quốc thì đạo đức của ngài càng vang khắp. Vua Ý Tôn thân hành đến pháp tịch nghe ngài giảng đạo. Nhân đó vua mới ân từ rất hậu cho ngài các pháp tọa bằng gỗ trầm hương và từ đó trên đầu gối của ngài bỗng nhiên mọc mụn ghẻ tựa như mặt người, đau nhức khôn xiết! Ngài cho mời tất cả các bậc danh y, nhưng không ai chữa được. Nhân ngài nhớ lời dặn trước bèn đi vào núi mà tìm.

Trên đường đi, trời đã mờ tối, trong khoảng âm u mây bay khói tỏa mịt mù, ngài nhìn xem bốn phía, bỗng thấy dạng hai cây tùng ngài mới tin rằng lời ước hẹn xưa không sai. Ngài liền đến ngay chỗ đó, quả nhiên thấy lầu vàng điện ngọc lộng lẫy nguy nga, ánh sáng quang minh chói lọi khắp nơi. Trước cửa nhà sư đang đứng chờ đón ngài một cách thân mật.

Nhân ở lại đêm, ngài Ngộ Đạt mới tỏ hết tâm đau khổ của mình. Nhà sư ấy nói:
– Không hề gì đâu, dưới núi này có một cái suối, sáng ngày rửa mụn ghẻ ấy khỏi ngay.

Mờ sáng hôm sau một chú tiểu đồng dẫn ngài ra ngoài suối. Ngài vừa bụm nước lên rửa thì mụn ghẻ kêu lên:
– Đừng rửa vội: Ông học nhiều biết rộng đã khảo cứu các sách cổ kim mà có từng đọc đến chuyện Viên Áng, Tiều Thố chép trong bộ Tây Hán chưa?

– Tôi có đọc.

– Ông đã đọc rồi có lẽ nào lại không biết chuyện Viên Áng giết Tiều Thố vậy? Thố bị chém ở chợ phía đông oan ức biết dường nào. Đời đời tôi tìm cách báo thù ông, song đã mười kiếp ông làm bậc cao tăng, giới luật tinh nghiêm, nên tôi chưa tiện bề báo oán được. Nay vì ông được nhà vua quá yêu chuộng nên khởi tâm danh lợi làm tổn giới đức, tôi mới báo thù được ông. Nay nhờ ngài Ca Nặc Ca tôn giả lấy nước pháp tam muội rửa oán cho tôi rồi, từ đây trở đi tôi không còn báo oán ông nữa.
Ngài Ngộ Đạt nghe qua hoảng sợ liền vội vàng bụm nước dội rửa mụn ghẻ làm nhức nhối tận xương tủy, chết giấc hồi lâu mới tỉnh. Khi tỉnh lại thì không thấy mụn ghẻ ấy nữa. Nhân đó ngài mới biết Thánh hiền có ẩn tích kẻ phàm tình không thể lường được. Ngài muốn trở lên lạy tạ vị sư, nhưng ngó ngoảnh lại thì ngôi bảo điện kia đã biến mất từ bao giờ. Vì thế ngài bèn lập một cái thảo am ngay chỗ ấy và sau đó trở thành một ngôi chùa. Đến năm Chí Đạo triều nhà Tống mới sắc hiệu là: Chí Đức Thiên Tự. Có một vị cao Tăng làm bài ký sự ghi chép việc này rõ ràng.

Khi đó ngài Ngộ Đạt nghĩ đến nỗi oan trái bao đời nếu không gặp thành nhân thì do đâu khỏi được. Vì cảm niệm cái ơn tế độ lạ lùng ấy, ngài mới thuật ra pháp sám này để mai chiều lễ tụng, sau truyền bá khắp thiên hạ.

Ba quyển sám đây tức là bài văn của ngài làm ra lúc đó vậy.

Nghĩa chính của bài văn này là lấy nước Tam muội rửa sạch nghiệp oan khiên nên mới đặt tên là Thủy Sám. Lại ngài Ngộ Đạt cũng vì cảm điềm dị ứng của đức Ca Nặc Ca nên dùng tên ấy mà đặt tên cho bộ Sám văn này để đáp cái thâm ân kia.

Nay tôi kể rõ sự thật và nêu công của tiên đức để cho những người lật bộ sám văn này, hoặc lễ, hoặc tụng, đều biết được sự tích của tiền hiền vì lẽ nhân quả tuy nhiều kiếp cũng không sai chạy.

(Bài này tôi cố tìm tên tác giả mà không thấy)

NGHI THỨC TỤNG NIỆM

NGUYỆN HƯƠNG
(Quỳ gối, chủ sám dâng hương, bạch lễ)
Nguyện đem lòng thành kính
Gửi theo đám mây hương
Phảng phất khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tam Bảo
Thề trọn đời giữ đạo
Theo tự tính làm lành
Cùng pháp giới chúng sinh
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm Bồ Đề kiên cố
Chí tu đạo vững bền
Xa biển khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác
Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát
Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát
Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát! (3 tiếng chuông)

VĂN KHẤN
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
Con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con. Con xin thỉnh mời chư Thiên, chư Thần Linh, Thổ Địa, đẳng đẳng chư Thần quang giáng nơi đàn tràng pháp hội ủng hộ cho chúng con. Hôm nay là ngày… tháng… năm… đệ tử con là… ở tại… Con xin tác lễ sám hối theo pháp sám Từ Bi Thủy Sám Pháp. Con tin vào nhân quả, thể theo lời Phật dạy, con nghĩ rằng từ nhiều kiếp trước, con (và tên người cần hồi hướng)… đã tạo vô lượng tội, làm tổn hại và sát hại vô lượng chúng sinh, khiến cho chúng sinh đau khổ, mang tâm oán hận con (và tên người cần hồi hướng)… con xin nương oai lực Tam Bảo, hạnh nguyện độ sinh, độ cho vong linh của chư Tăng chùa Ba Vàng thỉnh mời tất cả chư vị vong linh (gia tiên, vong linh trên đất và oan gia trái chủ…)… về đây chứng giám cho lòng thành sám hối của con và hoan hỉ nghe kinh thính Pháp cùng con sám hối. Con cũng xin nhất tâm cung thỉnh chư Thiên, chư Thần cùng dự tu pháp đàn sám hối này.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

LỄ TÁN PHẬT
(Pháp khí: khánh, chuông)
Đại từ đại bi thương chúng sinh,
Đại hỷ đại xả cứu hàm thức,
Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm.
Chúng con chí tâm thành đảnh lễ. (1 chuông)
Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Chính Pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 chuông) (1 lễ)

(Đồng quỳ tụng sám thỉnh)
Kính nghe: Lòng Từ Mẫn hằng vì muôn vật, tâm Bi Nguyện khéo độ quần sinh.

Hai chữ Từ Bi làm tiêu hết muôn nghìn tội lỗi. Một niệm sám hối quy hướng Phật Đà diệt trừ trăm vạn oan khiên.

Nguyên nhân làm ra văn Thủy Sám này, là do Viên Áng, Tiều Thố, hai người vì kết thành mối oan khiên nên nghiệp quả kia khó tránh.

Dưới bóng song tùng ngài Ca Nặc Ca tôn giả hiện Phạm thể đoan nghiêm, trong ao Tam Muội ngài Ngộ Đạt thoát oan sang, khổ nạn. Nhân Từ tâm hướng về thiện niệm, vì thế nên đất hiện suối thơm. Văn Thủy Sám này mở đầu, là nguyên do từ đó.

Sở dĩ, một giọt nước thấm nhuần lại là phương thuốc hay thoát khổ, một lời kêu Sám hối thực là đạo tối yếu trừ khiên; khả dĩ đền đáp được bốn ân sâu; khả dĩ tiêu tan nhiều đời tội nặng; khả dĩ cứu vớt cực khổ nơi ba đường; khả dĩ gỡ mối oan khiên trong nhiều kiếp. Công đức sám ma ấy, khen ngợi mãi không cùng.

Hôm nay đàn tràng nghiêm tịnh, tiệc pháp kính bày. Quy mạng mười phương Điều Ngự, kính lễ Phổ Hiền nguyện vương, vận tưởng hương hoa, một lòng dâng cúng.

Muốn cho căn lành trong sạch, trước nên nghiệp chướng tiêu trừ. Cúi mong đức đại Từ Bi trông xuống rủ lòng soi xét.

Nam mô cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)

Kính nghe: Mỗi đức Phật ra đời mở tám vạn bốn nghìn cửa Pháp. Một mặt trăng cõi thiên phá tối tăm quần sinh nơi đại địa. Mở rộng đạo mầu Nhất thừa, sám diệt tội khiên hết thảy.

Kính xin bảy Phật Thế Tôn, mười phương Từ Phụ, hiện tướng hào quang sáng suốt, giám soi ý khẩn chân thành.

Phụng vì chúng con tín thành sám hối, VẬN SỨC TỪ BI ĐẠO TRÀNG THỦY SÁM. Đây là quyển thượng, duyên khởi vào đàn, hành nhân chúng con, quỳ gối chắp tay, kính lễ mười phương Tam Bảo, quy y hết thảy Thánh Tăng, giãi tỏ cầu thương, mở bày sám hối.

Trộm nghĩ: Chúng con Nhất Tính trái ngang chìm đắm hướng về trong bốn thú, Nhất Chân mờ mịt loanh quanh ở mãi trong sáu đường, nghiệp Thân, Miệng, Ý buông lung, vì Tham, Sân, Si phóng túng. Làm càn làm bậy tạo ra nghiệp chướng vô biên, theo ác theo tà gây lấy lỗi lầm nhiều thứ.

Nay nhờ đức Như Lai mở bày cửa Pháp phương tiện, khiến cho tất cả chúng con phát khởi tâm thành sám hối. Mong nhờ Thánh chúng, mở đọc sám văn, rửa tội cấu nghìn đời, trừ oan khiên nhiều kiếp. Con nguyện xin chư Phật rủ lòng thương; Ngưỡng mong đức Đại Từ Bi, vì con mà ngầm giúp.
Khải vận đạo tràng Sám Pháp, một lòng quy mạng chư Phật trong ba đời.

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Quá khứ Tỳ Bà Thi Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Thi Khí Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tỳ Xá Phù Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Câu Lưu Tôn Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ca Diếp Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đương lai Di Lặc Tôn Phật. (1 chuông) (1 lễ)

KỆ KHAI KINH
(Ngồi, khai chuông mõ)
Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn
Trăm nghìn muôn kiếp khó được gặp
Nay con nghe thấy vâng gìn giữ
Nguyện hiểu nghĩa chân Đức Thế Tôn.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (3 lần)

TỪ BI
TAM MUỘI THỦY SÁM

PHÁP TỪ BI
THỦY SÁM
(QUYỂN THƯỢNG)

Tất cả chư Phật, vì thương xót chúng sinh, nói pháp lập đàn Thủy Sám. Chúng sinh vì nghiệp cấu nặng nề nên không một ai tránh khỏi tội lỗi. Những kẻ phàm phu bị màn vô minh che lấp, gần gũi bạn ác, phiền não loạn tâm, tính không hiểu biết, nên cứ buông lòng tự thị, không tin tưởng mười phương chư Phật, không tin tôn Pháp, cùng các bậc thánh Tăng, bất hiếu cha mẹ, không kính nhường bà con. Tuổi trẻ phóng túng, kiêu căng ngạo mạn, đối với các vật quý báu, các thứ ca nhạc, các sắc đẹp trai gái thường sinh tâm tham luyến, ý khởi phiền não, lân la với người hư, tập tành theo bạn ác, không biết chừa đổi. Hoặc giết hại các giống sinh linh, hoặc uống rượu mê man mất hết trí tuệ, rồi thường cùng với chúng sinh tạo nghiệp phá giới. Những tội lỗi ở quá khứ, cùng tội ác ở hiện tại ngày nay chí thành xin sám hối hết thảy, còn các tội lỗi về sau không dám làm nữa.

Bởi thế hôm nay chúng con dốc lòng thành kính quy y hết thảy các đức Phật, các vị Đại Bồ Tát, Bích Chi, La Hán, Phạm Vương Đế Thích, Thiên Long Bát Bộ và tất cả Thánh chúng trong mười phương hư không thế giới cầu xin rủ lòng chứng giám.

LỄ PHẬT VÀ BỒ TÁT
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô A Di Đà Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Di Lặc Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ca Sa Tràng Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Sư Tử Hống Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Trang Nghiêm Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)

Đỉnh lễ các đức Phật rồi, thứ lại sám hối. Nhưng, muốn lễ sám trước phải kính lễ Tam Bảo, vì Tam Bảo là bạn lành, là ruộng phúc của tất cả chúng sinh. Nếu quy hướng Tam Bảo thì diệt được vô lượng tội, thêm được vô lượng phúc, khiến người làm đạo thoát khổ sinh tử, được vui giải thoát. Vì vậy cho nên chúng con tên là…

Quy y hết thảy chư Phật trong mười phương hư không thế giới. (1 chuông) (1 lễ)
Quy y hết thảy tôn Pháp trong mười phương hư không thế giới. (1 chuông) (1 lễ)
Quy y hết thảy Thánh Tăng trong mười phương hư không thế giới. (1 chuông) (1 lễ)

Sở dĩ ngày nay chúng con sám hối, chính vì từ vô thủy nhẫn lại, còn ở địa vị phàm phu bất cứ sang hèn, tội lỗi không lường: hoặc do ba nghiệp gây nên tội lỗi, hoặc vì nội tâm vọng tưởng, hoặc vì ngoại cảnh mê hoặc sinh lòng nhiễm trước.

Như thế cho đến mười điều ác nghiệp, tám vạn bốn ngàn trần lao. Những tội lỗi ấy tuy nhiều vô lượng nhưng không ngoài ba điều: phiền não, nghiệp chướng, quả báo. Ba ác pháp này, là pháp chướng ngại thánh đạo, ngăn trở quả báo tốt đẹp nhân thiên. Thế nên kinh gọi là ba chướng, vì vậy chư Phật, Bồ Tát dạy làm những pháp phương tiện sám hối trừ diệt. Ba chướng ấy diệt thì sáu căn, mười ác, cho đến tám vạn bốn ngàn trần lao thảy đều thanh tịnh.

Hôm nay chúng con là… đem hết lòng thành, vận tâm thù thắng sám hối ba chướng. Muốn diệt ba chướng phải dùng những tâm niệm này: Trước phải phát bảy tâm thù thắng làm phương tiện, sau mới trừ diệt:

Một là tâm tủi hổ; hai là tâm e sợ; ba là tâm chán xa; bốn là tâm Bồ Đề; năm là tâm oán thân bình đẳng; sáu là tâm nghĩ báo ân Phật; bảy là tâm quán xét tội tính vốn không.

Thứ nhất tâm tủi hổ, là tự nghĩ ta với đức Thích Ca đồng là phàm phu, mà đức Thế Tôn đã thành đạo đến nay trải qua số kiếp nhiều như cát bụi, chúng ta thì lại còn cùng nhau say đắm lục trần trôi lăn trong vòng sinh tử, chưa biết bao giờ ra khỏi. Như thế thật là đáng thẹn đáng hổ nhất trong thiên hạ.

Thứ hai tâm e sợ, đã là phàm phu thì thân, khẩu, ý nghiệp thường thuận ứng với tội lỗi. Bởi nhân duyên ấy nên sau khi chết phải đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh chịu khổ vô cùng. Như thế thật là đáng kinh đáng sợ.

Thứ ba tâm chán xa, là chúng ta thường cùng nhau quan sát, trong đường sinh tử, chỉ là vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh, hư giả như bọt nước nổi, tan, xoay, vần qua lại như bánh xe lăn; còn thêm sinh, già, bệnh chết, tám khổ, nung nấu không dừng. Chúng ta xem xét ngay trong thân thể, từ đầu đến chân có 36 thứ: tóc, lông, răng, móng, ghèn, nước mắt, mũi, nước miếng, gàu, mồ hôi, đại tiện, tiểu tiện, da dầy, da mỏng, máu, thịt, gân, mạch, xương, tủy, mỡ chài, mỡ nước, óc, màng, lá lách, thận, tim, phổi, gan, mật, ruột, dạ dày, đàm đỏ, đàm trắng, sinh tạng, thục tạng, thường bài tiết ra chín lỗ. Nên trong kinh nói: thân này là chỗ chứa, các khổ não, đầy rẫy bất tịnh, nên kẻ trí giả chẳng hề yêu dấu. Trong vòng sinh tử đã có những cái xấu xa như thế, thực là đáng lo, đáng chán!

Thứ tư phát tâm Bồ Đề. Kinh nói: “Nên ham muốn thân Phật, vì thân Phật tức là Pháp thân, Pháp thân ấy do vô lượng công đức trí tuệ sinh ra, do tu sáu pháp ba-la-mật sinh ra, do từ, bi, hỉ, xả sinh ra, do tu 37 pháp trợ Bồ Đề sinh ra. Do những công đức trí tuệ ấy sinh ra thân Như Lai. Muốn được thân đó thì phải phát tâm Bồ Đề, cầu được Nhất thiết chủng trí Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, chứng qua Tát bà nhã, thanh tịnh Phật độ, thành tựu chúng sinh, chẳng tiếc thân mạng tài sản”.

Thứ năm tâm oán thân bình đẳng, là đối với tất cả chúng sinh, mở lòng từ bi không phân “nhân ngã”. Vì nếu còn thấy kẻ “oán” khác với người “thân”, tức còn có sự phân biệt. Bởi có phân biệt mới có chấp trước, bởi có chấp trước mới sinh phiền não, bởi sinh phiền não mới tạo nghiệp dữ, bởi tạo nghiệp dữ mới chịu quả báo.

Thứ sáu tâm nghĩ báo ân Phật. Đức Phật Như Lai từ vô lượng kiếp đã vì chúng ta mà bỏ cả đầu, mắt, tủy, não, tay chân, xương thịt, quốc thành, vợ con, voi ngựa, thất bảo, tu hành khổ hạnh. Ơn ấy đức ấy thật khó báo đền. Vì vậy kinh nói: “Giả sử đầu đội vai mang, trải qua vô số kiếp như hằng hà sa, cũng khó đền đáp ơn Phật. Chúng ta muốn đền đáp công ơn của đức Như Lai, trong đời này phải dũng mãnh, tinh tiến gắng chịu khổ nhọc, không tiếc thân mạng gây dựng Tam Bảo, hoằng dương giáo pháp Đại thừa, hóa độ chúng sinh, đồng vào ngôi Chính Giác”.

Thứ bảy tâm quán xét tội tính không thật, là tội không tự tính, do nhân duyên sinh, do điên đảo thành, đã do nhân duyên sinh thì cũng do nhân duyên diệt. Nhân duyên sinh tội tức là gần gũi bạn ác, gây nghiệp vô cùng. Nhân duyên diệt tội tức là ngày nay tịnh tâm sám hối. Thế nên kinh dạy: “Tội tính không phải ở trong, không phải ở ngoài, ở chặng giữa. Nên biết tội tính vốn không”.

Khởi bảy thứ tâm như trên ấy rồi, lại duyên tưởng đến mười phương chư Phật, cùng các Hiền thánh, cung kính chắp tay phơi bày tâm can tỏ lòng cầu khẩn hổ thẹn sám hối. Sám hối như thế, tội nào không diệt, phúc nào không sinh. Nếu không hết lòng sám hối, cứ lần lữa biếng nhác, tình tự buông lung thì chỉ khổ nhọc cho mình, chứ không ích lợi gì cả. Vả lại mạng người vô thường như quay bó đuốc. Khi hơi thở ra không trở lại thì thân này đồng như tro đất, khổ báo trong ba đường chính mình phải chịu, không thể nhờ tiền tài, của báu để lo cầu thoát khỏi, ở mãi trong cảnh mịt mù không có kỳ hạn ân xá, riêng mình chịu khổ, không ai thay thế.

Đừng cho rằng trong đời này ta không gây tội, mà không ân cần cầu sám hối, vì trong kinh nói: “Kẻ phàm phu mỗi khi động chân cất bước là đã có tội”. Lại trong những đời quá khứ đã gây nên nhiều điều ác nghiệp, không thể kể xiết, nó thường theo dõi như bóng theo hình. Nếu không sám hối thì tội ác càng ngày càng sâu. Nên biết rằng hễ che giấu tội lỗi mình, thì Phật còn không dung cho, tỏ bày để sám hối thì ngài Tịnh Danh kính chuộng. Bởi thế nên biết chúng sinh bị chìm đắm mãi trong bể khổ cũng do thói hay che giấu tội lỗi. Vì vậy ngày nay chúng con xin phát lộ sám hối, không dám che giấu.

Ba chướng: một là phiền não, hai là nghiệp chướng, ba là quả báo. Ba thứ chướng này làm nhân cho nhau, như do phiền não mới sinh ác nghiệp, do ác nghiệp mà phải chịu khổ báo. Vì thế ngày nay chúng con xin, hết lòng sám hối.

Thứ nhất sám hối các nghiệp chướng phiền não, vì những phiền não ấy đều do ý gây ra. Và khi ý nghiệp phát khởi, thì thân nghiệp, khẩu nghiệp theo đó mà phát động. Ý nghiệp có tham lam, có giận dữ, có ngu muội. Bởi ngu muội mới sinh tà kiến mà gây lắm việc ác. Vì vậy kinh nói: “Ba nghiệp tham, sân, si làm cho chúng sinh đọa lạc trong ba đường: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, chịu khổ vô cùng. Nếu được làm người cũng phải chịu những ác báo phiền não: nghèo nàn, túng thiếu, côi cút, lại thêm tính nết hung hăng, càn bướng, ngu độn không biết phải quấy”.

Ý nghiệp đã gây nhiều ác quả như thế, nên ngày nay chúng con dốc lòng đem hết thân mạng nương về chư Phật, cầu xin sám hối.

Những phiền não ấy, chư Phật, Bồ Tát, các bậc Thánh nhân, đã thấu tỏ chân lý, đủ mọi điều quở tránh. Gọi phiền não này là oan gia, vì phiền não làm dứt mất tuệ căn, tuệ mạng của chúng sinh; cũng gọi phiền não này là giặc cướp, vì cướp mất các pháp lành của chúng sinh; cũng gọi phiền não này là cái thác chảy mạnh, vì lôi cuốn chúng sinh vào bể khổ sinh tử; cũng gọi phiền não này là xiềng xích, vì ràng buộc chúng sinh trong ngục sinh tử không khi nào ra khỏi, cứ phải quanh quẩn mãi trong sáu nẻo bốn loài, gây nghiệp ác vô cùng, chịu quả khổ không ngớt. Thế mới biết những họa hoạn ấy đều do phiền não mà ra. Cho nên ngày nay vận tâm tăng thượng cầu xin sám hối.

Từ vô thủy đến nay, chúng con hoặc chịu quả báo trong sáu đường, hễ có tâm thức, thường ôm mối ngu hoặc đầy rẫy tâm can, hoặc nhân mầm tam độc tạo nên tất cả tội, hoặc nhân tam lậu tạo nên tất cả tội, hoặc nhân tam khổ tạo nên tất cả tội, hoặc duyên tam đảo tạo ra tất cả tội, hoặc tham tam hữu tạo nên tất cả tội. Những tội như thế vô lượng vô biên não loạn tất cả bốn loài chúng sinh trong sáu đường. Ngày nay hổ thẹn đều xin sám hối.

Lại nữa chúng con từ vô thủy nhẫn lại, hoặc nhân bốn trụ tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bốn lưu tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bốn thủ tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bốn chấp tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bốn duyên tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bốn đại tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bốn món phược tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bốn tham tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bốn sinh tạo nên tất cả tội.
Những tội như thế vô lượng vô biên não loạn tất cả chúng sinh trong sáu đường. Ngày nay hổ thẹn, đều xin sám hối.

Lại nữa, chúng con từ vô thủy nhẫn lại, hoặc nhân năm món trụ tạo nên tất cả tội, hoặc nhân năm món cái tạo nên tất cả tội, hoặc nhân năm món xan tạo nên tất cả tội, hoặc nhân năm món kiến tạo nên tất cả tội, hoặc nhân năm tâm tạo nên tất cả tội. Những phiền não như thế vô lượng vô biên, não loạn tất cả chúng sinh trong sáu đường, ngày nay tỏ bày cầu xin sám hối.

Lại nữa chúng con từ vô thủy nhẫn lại, hoặc nhân sáu căn tạo nên tất cả tội, hoặc nhân sáu thức tạo nên tất cả tội, hoặc nhân sáu tưởng tạo nên tất cả tội, hoặc nhân sáu thụ tạo nên tất cả tội, hoặc nhân sáu hành tạo nên tất cả tội, hoặc nhân sáu ái tạo nên tất cả tội, hoặc nhân sáu nghi tạo nên tất cả tội. Những phiền não như thế vô lượng vô biên, não loạn tất cả chúng sinh trong sáu đường, ngày nay hổ thẹn tỏ bày, cầu xin sám hối.

Lại nữa chúng con từ vô thủy lại đây, hoặc nhân bảy món lậu tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bảy món sử tạo nên tất cả tội, hoặc nhân tám món đảo tạo nên tất cả tội, hoặc nhân tám món cấu tạo nên tất cả tội, hoặc nhân tám khổ tạo nên tất cả tội. Những phiền não như thế vô lượng vô biên, não loạn tất cả chúng sinh trong sáu đường ngày nay tỏ bày, cầu xin sám hối.

Lại nữa chúng con từ vô thủy nhẫn lại, hoặc nhân chín não tạo nên tất cả tội, hoặc nhân chín kết tạo nên tất cả tội, hoặc nhân chín duyên tạo nên tất cả tội, hoặc nhân mười phiền não tạo nên tất cả tội, hoặc nhân mười triền tạo nên tất cả tội, hoặc nhân mười một biến sử tạo nên tất cả tội, hoặc nhân mười hai nhập tạo nên tất cả tội, hoặc nhân mười sáu tri kiến tạo nên tất cả tội, hoặc nhân mười tám giới tạo nên tất cả tội, hoặc nhân hai mươi lăm ngã tạo nên tất cả tội, hoặc nhân sáu mươi hai kiến tạo nên tất cả tội, hoặc nhân chín mươi tám sử, một trăm tám phiền não của kiến hoặc, tư hoặc đêm ngày bập bùng mở cửa hữu lậu gây nên tất cả tội, não loạn Thánh hiền và bốn loài chúng sinh, đầy rẫy ba cõi tràn khắp sáu đường không còn chỗ trốn lánh. Ngày nay hết lòng cầu khẩn hướng về mười phương chư Phật, tôn Pháp, Thánh chúng, hổ thẹn giãi bày đều xin sám hối.

Nguyện nhờ công đức sám hối tất cả phiền não ba độc, chúng con nguyện đời đời kiếp kiếp được ba thứ trí tuệ, ba món sáng tỏ, diệt được ba khổ đầy đủ ba nguyện. Lại nguyện nhờ công đức đã sám hối tất cả phiền não vì bốn món thức…, chúng con… đời đời kiếp kiếp được mở rộng bốn tâm bình đẳng, lập bốn tín nghiệp diệt bốn đường ác được bốn vô úy. Nguyện nhờ công đức đã sám hối tất cả phiền não vì năm món cái… chúng con… đời đời kiếp kiếp, qua khỏi được năm đường, dựng được năm căn năm thứ tịnh nhãn thành tựu năm phần pháp thân. Lại nguyện, nhờ công đức đã sám hối tất cả phiền não của sáu thụ…, chúng con… đời đời kiếp kiếp được đầy đủ sáu món thần thông, sáu pháp lục độ. Không bị sáu trần mê hoặc, thường làm được sáu diệu hạnh. Lại nguyện nhờ công đức sám hối tất cả phiền não vì bảy lậu, tám cấu, chín kết, mười triền… chúng con… đời đời kiếp kiếp được ngồi trên hoa thất tịnh được tắm nước bát giải, đủ trí cửu đoạn, thành tựu hạnh thập địa.

Lại nguyện, nhờ công đức sám hối tất cả phiền não vì mười một biến sử, mười hai nhập, mười tám giới… chúng con… đời đời kiếp kiếp được hiểu mười một món không, tâm thường nương những món không ấy, tự tại chuyển nói mười hai hành pháp luân, đầy đủ mười tám món bất cộng pháp vô lượng công đức đều viên mãn.

Phát nguyện xong, chí tâm kính lễ chư Phật:
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô A Di Đà Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Di Lặc Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Long Tự Tại Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Bảo Thắng Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ca Sa Tràng Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Sư Tử Hống Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Trang Nghiêm Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)

Đảnh lễ chư Phật rồi, kế lại sám hối. Pháp sám hối chính là sửa đổi sự lỗi lầm đã qua, diệt ác làm lành. Người đời ai không lỗi, như bậc hữu học lỡ mất chính niệm còn bị phiền não nổi lên, bậc La Hán có lúc kết tập phát khởi cũng còn phạm phải những nghiệp thân, khẩu, ý, huống kẻ phàm phu sao khỏi tội lỗi. Những người có trí biết trước liền ăn năn đổi lỗi, còn kẻ ngu si giấu giếm, nên tội thêm tràn đầy, chất chứa lâu ngày không biết khi nào tỏ ngộ. Nếu biết hổ thẹn giãi bày sám hối, không những diệt được tội lỗi, còn thêm vô lượng công đức, gây dựng quả vị Niết Bàn vi diệu của Như Lai. Muốn thật hành pháp sám hối trước hết, thân phải nghiêm trang tề chỉnh, chiêm ngưỡng tôn tượng, tâm phải khởi ý cung kính, theo pháp quán tưởng, hết lòng cầu khẩn, để tâm suy nghĩ hai điều: Thứ nhất phải nghĩ thân mạng khó giữ thường còn, một khi tan nát không biết bao giờ được lại. Nếu không gặp chư Phật cùng các bậc hiền thánh, lại gặp phải bạn ác, tạo thêm nhiều tội nghiệp, sẽ bị đọa lạc chốn hiểm hang sâu. Thứ hai phải tự nghĩ ngày nay, ta tuy gặp chính pháp Như Lai, lại không biết vì Phật pháp nối dõi giống Thánh, tẩy sạch ba nghiệp thân, khẩu, ý, để cư xử theo thiện pháp, lại riêng làm việc ác, cố ý che đậy, nói người khác không biết, kẻ kia không thấy, giấu kín trong lòng ngang nhiên không hổ thẹn. Như thế thật là một điều hết sức ngu hoặc trong thiên hạ.

Mười phương chư Phật, chư đại Bồ Tát cùng các vị thiện Thần, lúc nào lại không dùng thiên nhãn thanh tịnh mà soi thấy hết những tội ác của chúng ta gây tạo.

Và lại các Thần linh ở chốn u minh ghi chép tội phúc không sai một mẩy may nào. Nói đến những người đã làm nên tội lỗi, sau khi chết rồi bị ngục tốt đầu trâu thâu bắt thần hồn đem nạp, trước mặt Diêm Vương để tra xét điều phải trái. Bấy giờ tất cả kẻ oán cừu đang làm chứng nói: “Ngươi trước kia mổ ta, giết ta, nấu, hầm, rang, nướng ta…” hoặc nói: “Trước kia ngươi cướp bóc lấy hết tiền bạc ta, ly gián quyến thuộc ta, ngày nay ta mới có dịp ở trước người làm chứng cớ rõ ràng, đâu còn giấu giếm chỉ đành cam chịu những tội lỗi trước”.

Trong kinh nói rõ: Ở địa ngục không bao giờ xử oan. Người nào ngày thường gây những tội gì, tuy đã quên mất, nhưng đến khi chết rồi tất cả hình tướng ấy do các nghiệp ác độc tạo nên từ trước đều hiện ra, nói: “Xưa kia ngươi ở bên ta tạo những tội ác như thế, nay làm sao giấu giếm được?”. Lúc đó tội nhân không còn chỗ nào che đậy. Ngay lúc ấy Diêm Vương nghiến răng quở trách rồi cho vào địa ngục, trải vô lượng kiếp, chẳng hòng thoát khỏi. Việc đó chẳng phải xa lạ mà cũng không quan hệ gì với người, chính tự mình tạo tự mình phải chịu, dù chí thân như cha con, một khi quả báo đối đầu, cũng không thay thế cho nhau được.

Vậy nay chúng ta cùng được làm thân người khoẻ mạnh, không bệnh tật, nên gắng sức tu hành, tranh đua cùng thọ mạng, khi đại nạn xảy đến, hối hận không kịp. Bởi thế, chúng con dốc lòng, cầu xin sám hối.

Từ vô thủy đến nay, chúng con bị vô minh che khuất tâm trí, do phiền não tạo các nghiệp ác trong ba đời. Hoặc say đắm dục lạc sinh ra “phiền não ham muốn”, hoặc giận giữ bực tức sinh ra “phiền não hãm hại”, hoặc tâm trí tối tăm sinh ra “phiền não không hiểu rõ”, hoặc ngã mạn tự cao sinh ra “phiền não ngạo nghễ”, hoặc nghi ngờ chánh đạo sinh ra “phiền não do dự”, hoặc bác không nhân không quả sinh ra “phiền não tà kiến”, hoặc không biết thân cảnh do nhân duyên giả hợp, sinh ra “phiền não chấp ngã”, hoặc mê lầm trong ba đời sinh ra “phiền não chấp thường chấp đoạn”, hoặc gần gũi tà pháp sinh ra “phiền não kiến thủ”, hoặc theo lầm tà sư sinh ra “phiền não giới thủ”, cho đến do tất cả bốn món chấp thành ra “phiền não chấp trước sai lầm…”. Ngày nay chí thành đều xin sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay, bởi có tính bo bo lận tiếc, sinh ra “phiền não keo bẩn” bởi không thâu nhiếp sáu căn, sinh ra “phiền não buông lung”, bởi để tâm làm những việc xấu xa ác độc sinh ra “phiền não bất nhẫn”, bởi biếng nhác trễ nải sinh ra “phiền não không siêng năng” bởi hay ngờ vực lo nghĩ bông lông, sinh ra “phiền não giác quán”, bởi xúc cảnh mê hoặc, sinh ra “phiền não không hiểu biết”, bởi theo tám thói xấu ở đời, sinh ra “phiền não nhân ngã”, bởi dối trá, khen trước mặt, chê sau lưng sinh ra “phiền não tâm không ngay thẳng”, bởi thô cứng khó dạy sinh ra “phiền não không điều hòa”, bởi dễ giận khó vui, sinh ra “phiền não uất hận”, bởi hay ghen ghét đâm thọc sinh ra “phiền não hung dữ”; bởi hung bạo độc hại, sinh ra “phiền não thâm độc”, bởi trái với Thánh đạo sinh ra “phiền não chấp tướng”, bởi không biết pháp tứ đế, khổ, tập, diệt, đạo, sinh ra “phiền não điên đảo”, bởi cứ theo chiều sinh tử, không diệt được mười hai nhân duyên sinh ra “phiền não luân chuyển”, cho đến do vô minh trụ địa, từ vô thủy khởi ra hằng sa phiền não, khởi tứ trụ địa, gây thành khổ quả trong ba cõi. Khổ quả phiền não vô lượng vô biên, não loạn hiền Thánh, bốn loài chúng sinh trong sáu nẻo. Ngày nay giãi bày trước mười phương chư Phật, tôn Pháp, Thánh chúng, đều xin sám hối.

Nguyện nhờ công đức đã sám hối những phiền não tham, sân, si do ý nghiệp khởi ra, đời đời kiếp kiếp bẻ tràng kiêu mạn, khô nước ái dục, tắt lửa sân hận, phá tối ngu si, nhổ gốc nghi hoặc, xé lưới tà kiến, biết rõ ba cõi như ngục tù, tứ đại như rắn độc, ngũ ấm như kẻ thù, lục nhập rỗng không, dối trá thân thiện, siêng tu tám món thánh đạo, dứt nguồn vô minh, nhắm thẳng Niết Bàn không hề dừng nghỉ, luôn luôn để tâm làm theo ba mươi bảy phẩm trợ đạo, cùng mười pháp ba-la-mật thường được hiện tiền.
Sám hối phát nguyện rồi, hết lòng tin tưởng kính lễ Thường Trụ Tam Bảo.

HẾT QUYỂN THƯỢNG

PHÁP TỪ BI
THỦY SÁM
(QUYỂN TRUNG)

Tất cả chư Phật vì thương xót chúng sinh mới nói pháp đạo tràng Thủy Sám. Ngày nay chúng con xin kính lễ chư Phật.
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô A Di Đà Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Di Lặc Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Long Tự Tại Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Bảo Thắng Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ca Sa Tràng Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Sư Tử Hống Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Trang Nghiêm Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)

Đỉnh lễ chư Phật rồi, thứ lại sám hối. Đến nay thân tâm chúng con được yên tịnh, trong không bị phiền não dối gạt, ngoài không bị chướng nạn ngăn trở, chính là lúc sinh thiện diệt ác, lại phải thực hành bốn món quán hạnh, để làm phương tiện dứt tội.

Bốn món quán hạnh là:
1) Quan sát nhân duyên,
2) Quan sát quả báo,
3) Quan sát thân mình,
4) Quan sát thân Như Lai.

Thứ nhất quan sát nhân duyên: Biết mình có tội, do vô minh suy nghĩ xằng bậy, không sức chính quán, không biết tội lỗi xa lìa bạn tốt, xa lìa chư Phật, Bồ Tát, theo dõi đường ma lối hiểm, như cá nuốt câu không biết tai họa, như tằm làm kén tự ràng buộc mình, như con thiêu thân đâm đầu vào lửa tự thiêu đốt mình, do nhân duyên ấy không thể giải thoát.

Thứ hai quan sát quả báo: Vì những ác nghiệp nên phải luân chuyển mãi trong ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) chịu quả khổ vô cùng, chìm đắm trong đêm dài, biển lớn bị lũ quỷ La sát phiền não ăn thịt, sự sinh tử sau này mênh mang không bờ bến. Dầu cho phúc báo được làm đến bậc Chuyển Luân Thánh Vương, thống trị bốn châu thiên hạ, bay đi tự tại, đủ các thất bảo, sau khi chết cũng không khỏi đường ác, dầu được hưởng quả báo tứ không thiên, cao nhất trong ba cõi, khi phúc đã báo hết rồi còn phải trở lại làm trùng trong yếm trâu, huống những kẻ không phúc đức gì lại giải đãi không siêng năng sám hối, thế chẳng khác chi ôm đá gieo mình xuống vực sâu, khó mong ra khỏi.

Thứ ba quan sát thân ta: Tuy có chính nhân giác tính, nhưng bị phiền não hắc ám che lấp, không có sức liễu nhân, thành ra bản tính vốn sáng suốt kia, không tỏ rõ được. Ngày nay cần phải phát tâm thù thắng phá tan màn vô minh, dẹp hết chướng ngại điên đảo, diệt trừ nguyên nhân hư ngụy của sinh tử, làm sáng tỏ của trí tuệ sáng suốt của Như Lai, đặng gây dựng quả Niết Bàn vô thượng.

Thứ tư quan sát thân Như Lai: Vô vi tịnh chiếu, xa bốn cấu bặt trăm lỗi, đầy đủ các đức trạm nhiên thường trú, dầu phương tiện vào diệt độ, nhưng lòng từ bi cứu vớt chúng sinh không hề tạm nghỉ.
Khởi tâm quan sát như thế, tức là bến lành để diệt tội, là hạnh cốt yếu để trừ nghiệp chướng. Vì vậy ngày nay chí thành cầu xin sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay, chúng con nuôi thêm phiền não, ngày càng sâu dày, càng nảy nở, che đậy tuệ nhãn không thấy được lẽ chân ngụy, dứt trừ mọi việc lành không cho nối tiếp nhau, khởi phiền não làm trở ngại không được thấy Phật, không nghe chính Pháp, không gặp Thánh Tăng; khởi phiền não làm trở ngại không thấy được nghiệp lành nghiệp dữ trong đời quá khứ, hiện tại, vị lai và pháp xuất ly; khởi phiền não làm trở ngại không được địa vị tôn quý ở cõi trời, cõi người; khởi phiền não làm trở ngại không được sinh vào cõi sắc, cõi vô sắc để hưởng phúc báo yên vui thiền định; khởi phiền não làm trở ngại không được phép thần thông tự tại, bay, đi, ẩn, hiện đến khắp các cõi Phật trong mười phương để nghe Pháp; khởi phiền não làm trở ngại không học được pháp quán đếm hơi thở để tâm khỏi tán loạn, pháp quán về bất tịnh để ngăn ngừa tâm ham muốn, pháp quán về nhân duyên để dứt bỏ tâm si mê; khởi phiền não làm trở ngại không học được pháp noãn, đảnh, nhẫn, đệ nhứt, bảy pháp phương tiện; khởi phiền não làm trở ngại, không học được những pháp từ, bi, hỷ, xả, văn, tư, tu; khởi phiền não làm trở ngại sự hiểu biết về quán hạnh của ba món không, bình đẳng, trung đạo; khởi phiền não làm trở ngại không học những phẩm trợ đạo, niệm xứ, chính cần, căn, lực và như ý túc; khởi phiền não làm trở ngại không học đạo bát chính chỉ rõ về phần tướng; khởi phiền não làm trở ngại sự học đạo thất giác chi không chỉ về hình tướng; khởi phiền não làm trở ngại không học đạo bát giải thoát cửu không định; khởi phiền não làm trở ngại sự học các pháp thập trí, tam tam muội; khởi phiền não trở ngại sự học những pháp tam minh, lục thông, tứ vô ngại; khởi phiền não làm trở ngại sự học những pháp lục độ, tứ đẳng; khởi phiền não làm trở ngại sự học pháp tứ nhiếp để giáo hóa khắp chúng sinh; khởi phiền não làm trở ngại sự học bốn hoằng thệ của Đại thừa tâm; khởi phiền não làm trở ngại sự học những pháp thập minh, thập hạnh; khởi phiền não làm trở ngại sự học pháp thập hồi hướng, thập nguyện; khởi phiền não làm trở ngại sự học minh giải của các ngôi sơ địa, nhị địa, tam địa, tứ địa; khởi phiền não làm trở ngại sự học những điều tri kiến của các ngôi, ngũ địa, lục địa, thất địa; khởi phiền não làm trở ngại sự học pháp song chiếu của các ngôi bát địa, cửu địa, thập địa; khởi phiền não làm trở ngại sự học những hạnh tu trong trăm vạn A-tăng-kỳ kiếp.

Những chướng ngại sự tu hành ấy vô lượng vô biên, ngày nay chúng con hết lòng thành khẩn hướng lên mười phương chư Phật, tôn Pháp, Thánh chúng, hết sức hổ thẹn cầu xin sám hối, nguyện đều dứt sạch.

Nguyện nhờ công đức sám hối tất cả các phiền não làm trở ngại sự tu hành, chúng con được thụ sinh tự tại, khắp nơi khắp chốn muốn ở được ở không bị nghiệp cảm chất chứa xoay chuyển, lại còn dùng phép thần thông như ý, trong khoảnh khắc đã dạo khắp mười phương, vừa trang nghiêm thanh tịnh các cõi Phật, vừa nhiếp hóa tất cả chúng sinh. Những cảnh giới thiền định rất cao thâm, cùng những sự thấy biết của chư Phật chúng con nguyện hiểu thấu một cách vô ngại, tâm thường bao quát tất cả các pháp, tự tại diễn nói không bị nhiễm trước, được tâm tự tại, pháp tự tại, phương tiện tự tại, khiến những phiền não ngu dốt kết tập lâu đời, đều được dứt hẳn, không còn tiếp nối, để chứng được đạo thánh vô lậu sáng chói như mặt trời.

Phát nguyện rồi xin đem cả thân mạng kính lễ chư Phật.
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô A Di Đà Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Di Lặc Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Long Tự Tại Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Bảo Thắng Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ca Sa Tràng Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Sư Tử Hống Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Trang Nghiêm Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)

Đảnh lễ chư Phật rồi, kế đến sám hối.
Chúng con… đã được sám những phiền não chướng, giờ xin theo thứ lớp sám hối những nghiệp chướng. Nghiệp lực tô bồi các nẻo, bất cứ chỗ nào cũng bị đắm nhiễm, không chịu suy nghĩ để mong cầu giải thoát. Bởi vậy nên quả báo trong sáu đường không đồng nhau, hình thể mỗi loài một khác. Thế mới biết đó do nghiệp lực gây ra. Trong mười lực của Phật, nghiệp lực sâu thẳm hơn hết.

Kẻ phàm phu phần nhiều hay sinh lòng nghi hoặc. Vì thấy ở đời người làm lành lại gặp nhiều trắc trở, kẻ làm ác mà được mọi sự an hòa, mới cho rằng việc lành dữ không có phân minh, người chấp như thế bởi không đạt thấu lý sâu xa nghiệp báo. Kinh nói có ba thứ nghiệp báo:

Một là hiện báo, hai là sinh báo, ba là hậu báo. Hiện báo tức là trong đời này làm việc thiện ác thì ngay thân này chịu quả báo. Sinh báo tức là trong đời này làm việc thiện ác, qua đời sau mới chịu quả báo.

Hậu báo tức là trong vô lượng kiếp về quá khứ đã làm việc thiện ác, đến đời này hoặc vô lượng kiếp về sau mới chịu quả báo.

Còn người bây giờ làm ác mà gặp may mắn bởi do những nghiệp lành sinh báo, hậu báo đã thuần thục trong kiếp quá khứ, nên mới hưởng quả tốt đẹp. Như thế không phải trong đời này làm ác mà được quả báo tốt. Những người bây giờ làm lành lại bị khổ sở, do những nghiệp ác sinh báo, hậu báo đã thuần thục trong kiếp quá khứ, nên những mầm thiện ngày nay sức yếu không thể ngăn dẹp những nghiệp ác ấy, nên phải chịu quả khổ. Đâu phải trong đời này làm lành mà chịu ác báo.

Lại thấy trong đời những kẻ làm lành, được người khen ngợi kính trọng, nên biết ngày sau ắt được hưởng quả vui sướng. Chúng ta về quá khứ đã có những nghiệp ác như thế, nên chư Phật Bồ Tát dạy phải gần gũi bạn lành, cùng làm pháp sám hối. Gặp được bậc thiện tri thức là điều lợi lớn cho sự tu hành đắc đạo. Vì thế ngày nay chúng con xin chí thành quy y Phật.

Lại từ vô thủy đến nay, chúng con chất chứa nghiệp ác nhiều như cát sông Hằng, gây tội lỗi đầy cả đại địa, hết bỏ thân này lại thụ thân khác, không hay không biết, hoặc phạm tội ngũ nghịch sâu dày, trói buộc nặng nề gây nên tội vô gián, hoặc gây nên tội xiển đề thành nghiệp bỏ mất căn lành, khinh chê lời Phật dạy thành nghiệp báng bổ kinh điển Đại thừa, phá diệt Tam Bảo thành nghiệp hủy hoại chính Pháp, không tin tội phúc thành nghiệp thập ác hiểu lầm chân lý làm trái chính Pháp thành nghiệp si mê, bất hiếu cha mẹ thành nghiệp ngang trái, khinh mạn sư trưởng thành nghiệp không kính lễ, thất tín bạn bè trở thành nghiệp bất nghĩa, phạm tội tứ trọng bát trọng thành nghiệp làm trở ngại thánh đạo, hủy phạm năm điều răn cấm thành nghiệp phá giới bát quan trai, phạm ngũ thiên thất tụ thành nghiệp nhiều phạm giới, phạm giới ưu bà tắc thành nghiệp khinh trọng cấu, hoặc gây ra nghiệp thọ giới Bồ Tát mà không được thanh tịnh, như thuyết tu hành hoặc gây ra nghiệp trước khi thọ giới, sau khi thọ giới làm nhiễm ô phạm hạnh, mỗi tháng không ăn chay sáu ngày thành nghiệp giải đãi, mỗi năm không ăn chay luôn ba tháng thành nghiệp tu không thường, không giữ gìn ba nghìn uy nghi thành nghiệp không đúng giới pháp, không giữ gìn tám vạn luật nghi thành nghiệp vi tế tội, hoặc gây ra nghiệp không tu thân giới tâm tuệ, hoặc gây nên nghiệp tám, ngày vượng xuân thu tạo các tội lỗi, hoặc gây nên nghiệp làm mười sáu món ác luật nghi, hoặc gây nên nghiệp đối với chúng sinh không lòng thương xót, gây nên nghiệp không lân mẫn, không cứu giúp, ôm lòng đố kỵ thành ra nghiệp không cứu độ mọi loài, còn có chỗ oan thân thành ra nghiệp không bình đẳng, say đắm ngũ dục thành ra nghiệp không nhàm lìa, hoặc vì cơm áo, vườn rừng, ao hồ, thành ra nghiệp phóng đãng, dâm dật, hoặc vì tuổi trẻ phóng túng dục tình tạo ra các tội lỗi, hoặc tạo nghiệp lành hữu lậu để hồi hướng cầu sinh trong ba cõi thành nghiệp ngăn ngại pháp xuất thế.

Những tội lỗi ấy vô lượng vô biên, ngày nay chúng con hướng về mười phương chư Phật, Tôn Pháp, Thánh chúng xin giãi bày sám hối. Nhờ phúc lành sám hối các tội lỗi vô minh, ác nghiệp dứt sạch, được sinh phúc lành, nguyện chúng con đời đời kiếp kiếp diệt được tội ngũ nghịch, trừ hoặc nghiệp xiển đề. Tất cả nghiệp ác vừa nặng vừa nhẹ, từ nay trở đi đến khi thành Phật, thề không dám phạm. Chúng con nguyện thường chăm lo tu tập những thiện pháp xuất thế thanh tịnh, chuyên trì giới luật tinh nghiêm, giữ gìn uy nghi như người qua biển mến tiếc phao nổi. Những pháp lục độ, tứ đẳng tâm (từ, bi, hỷ, xả), thường nêu trước cả muôn hạnh, những phẩm Giới, Định, Tuệ càng thêm sáng tỏ, mau thành tựu ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, mười lực, bốn vô uý, ba niệm đại bi, diệu trí thường lạc, tám món tự tại của đức Như Lai. Chúng con… nguyện quy y chư Phật, xin rủ lòng từ bi hộ niệm.

Trước chúng con đã sám hối chung cả các nghiệp, nay lại xin theo thứ lớp sám hối riêng từng tội một. Những tội lỗi ấy hoặc chung (tội do ba nghiệp gây ra), hoặc riêng (tội do một trong sáu căn gây ra) hoặc to (tội do thân gây ra), hoặc nhỏ (tội do ý gây ra), hoặc nhẹ (tội do vô tâm gây ra) hoặc nặng (tội do sự cố ý gây ra), hoặc nói (thứ tội ai cũng biết), hoặc không (tội do một mình mình làm, một mình mình biết), có từng phẩm loại chúng con nguyện đều dứt hết. Sám hối riêng từng tội. Trước sám hối ba nghiệp của thân, sau sám hối bốn nghiệp của miệng, còn lại những nghiệp chướng khác, lần lượt xin cúi đầu sám hối tất cả.

Ba nghiệp của thân, thứ nhất là nghiệp giết hại, như kinh đã nói: “Dung thứ kẻ khác như dung thứ mình, chớ giết, chớ đánh”. Tuy loài cầm thú cũng biết bảo tồn thân mạng sợ chết như mình. Nếu tìm xét kỹ thì các chúng sinh từ vô thủy lại, hoặc đã là cha mẹ, anh em hoặc đã là bà con quyến thuộc, nhưng bởi nhân duyên nghiệp báo, nên phải luân hồi sáu nẻo, ra vào đường sinh tử, thay hình đổi dạng không còn nhận biết lẫn nhau. Nay chúng ta đang tâm giết hại ăn thịt, như thế rất tổn hại lòng Từ Bi. Vì thế Phật dạy: “Giả sử được ăn các món rau quả còn tưởng như trong đời đói khát phải ăn thịt con, huống là ăn cá thịt”. Phật lại dạy: “Vì lợi giết chúng sinh, lấy tiền mua thịt cá, cả hai đều là ác nghiệp, sau chết đọa vào địa ngục rên siết”. Vì thế nên biết giết hại loài vật và lấy thịt ăn, tội sâu như sông biển, nặng như gò núi. Song từ vô thủy đến nay, chúng con vì không được gặp bạn lành nên mới tạo những nghiệp ấy. Kinh dạy: “Tội giết hại thường làm chúng sinh đọa vào địa ngục, ngạ quỷ để chịu khổ báo. Nếu đầu thai trong loài súc sinh phải chịu làm thân hùm, beo, chó sói, bồ cắt, hoặc làm thân rắn độc, rết độc, ôm lòng hiểm ác, hoặc làm thân hươu nai, thỏ, beo, luôn luôn sợ hãi. Nếu được làm người mắc phải hai thứ quả báo: Một là nhiều bệnh, hai là chết yểu”.

Sự giết hại loài vật ăn thịt, ngày nay đã gây biết bao ác báo như thế, ngày nay chúng con chí thành cầu xin sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay, khi có tâm thức này, thường ôm lòng thâm độc, không dạ xót thương, hoặc vì tham lam mà giết, hoặc vì giận dữ si mê khinh mạn mà giết, hoặc dùng phương tiện độc ác mà giết hoặc thề giết, nguyền giết, dùng phù chú giết v.v… hoặc phá hồ tháo nước, thiêu đốt núi rừng, săn bắn chài lưới, hoặc nhân khi gió phóng lửa, hoặc thả chim săn, chó săn làm não hại tất cả mọi loài. Những tội như thế ngày nay chúng con đều xin sám hối. Hoặc dùng cạm bẫy hầm hố, câu liêm kích, cung nỏ bắn giết những loài chim bay, thú chạy, hoặc dùng lưới rập, thả câu để đơm bắt những loài dưới nước làm cho tất cả những giống ở nước: cá, ba ba, trạch, dọp, ốc, tôm, hến… ở mặt đất, ở trên không, chẳng còn chỗ nào trốn núp; hoặc nuôi gà, heo, trâu, dê, chó, ngỗng, vịt để tự mình giết ăn, hoặc mượn người làm thịt, khiến tiếng kêu thương của chúng chưa dứt mà lông cánh đã rơi rụng, mai vẩy đã tan nát, đầu một nơi, thân một ngả, xương thịt tiêu tan, lột, xé, mổ, cắt, đốt, thui, nấu, nướng đau đớn biết dường nào.
Than ôi! Ỷ sức mạnh giết hại loài vô tội ăn thịt, chỉ sướng miệng một lúc, được chút vị ngon, bất quá vì ba tấc lưỡi mà phải mang lấy tội báo kiếp kiếp đời đời. Những tội ác như thế, ngày nay chúng con xin chí thành sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay hoặc khởi binh đánh nhau, giao tranh nơi biên trường, hai bên giáp mặt, giết hại lẫn nhau, hoặc tự mình giết, hoặc sai người giết, hoặc nghe ai giết sinh tâm vui mừng, hoặc tập làm nghề mổ heo, bò, đi làm thịt mướn, xẻ nấu thân mạng loài vật, gây nhiều việc bất nhẫn, hoặc giận dữ khoa mác múa dao, hoặc chém hoặc đâm, hoặc xô xuống hầm hố, hoặc nhấn chìm dưới nước, hoặc lấp hang phá ổ, hoặc lấy đất đá ngăn lấp, hoặc dùng xe, ngựa lăn cán dày đạp tất cả chúng sinh. Những tội như thế vô lượng vô biên, ngày nay chúng con đều xin giãi bày sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay: Hoặc phá thai, đạp trứng, dùng trùng độc, thuốc độc diệt hại chúng sinh, hoặc khai khẩn đất cát, trồng cấy vườn ruộng, nuôi tằm, ươm kén, giết hại càng nhiều; hoặc đập đuổi ruồi muỗi, nhằn cắn chí rận, hoặc đốt rác dơ bẩn, khai tháo ngòi rãnh giết hại loài vật, hoặc ăn trái cây, dùng thóc gạo, rau dưa, phải giết càn chúng sinh; hoặc đốt củi thắp đèn đuốc, thiêu chết các loài côn trùng; hoặc lấy tương dấm không khuấy động trên mặt; hoặc đổ nước sôi làm chết sâu kiến, cho đến khi đi đứng, nằm ngồi cũng thường giết hại chúng sinh nhỏ nhít bay trên không bám dưới đất. Bởi phàm phu tâm thức tối tăm không hay biết mới phạm phải các tội, ngày nay đều xin giãi bày sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay, đối với chúng sinh, hoặc dùng roi, gậy, gông xiềng, hoặc dùng kìm kẹp tra khảo, đánh vật thoi đạp, lấy dây trói buộc giam cầm, tuyệt hẳn cơm nước, dùng những cách độc ác làm khổ não chúng sinh, ngày nay chí thành hướng về mười phương chư Phật, Tôn pháp, Thánh chúng, cầu xin sám hối.

Nguyện nhờ công đức sám hối những tội giết hại ấy, chúng con đời đời kiếp kiếp được thân hình bền chắc như kim cương, sống lâu vô cùng, xa lìa oán ghét, không còn nghĩ đến những việc giết hại. Đối với chúng sinh coi như con một. Nếu thấy bị tai nạn nguy cấp thì trước tùy phương tiện giải cứu, không lẫn tiếc thân mạng, rồi sau mới đem chính Pháp nhiệm màu nói cho, khiến chúng sinh thấy hình thấy bóng đều được an vui, nghe tên nghe tiếng liền sợ hãi. Vì thế ngày nay, chúng con xin cúi đầu quy y theo Phật.

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô A Di Đà Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Di Lặc Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Long Tự Tại Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Bảo Thắng Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ca Sa Tràng Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Sư Tử Hống Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Trang Nghiêm Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)

Đảnh lễ chư Phật rồi, kế đến sám hối nghiệp trộm cướp. Trong kinh nói: “Vật của người khác thì người đó giữ. Dầu một lá rau, cọng cỏ mà họ không cho cũng không được lấy, huống chi trộm cướp”. Nhưng vì chúng sinh chỉ thấy lợi trước mắt nên lấy một cách trái đạo, đến nỗi sau này phải chịu tai ương. Bởi vậy kinh nói: “Tội trộm cướp làm chúng sinh bị đoạ vào địa ngục, ngạ quỷ, chịu khổ vô cùng”. Nếu đầu thai trong đường súc sinh, phải chịu làm thân trâu ngựa, la, lừa, lạc đà v.v… đem thân máu thịt của mình trả nợ kiếp trước cho người. Nếu được làm người, phải chịu làm thân tôi mọi kẻ khác, áo không đủ che thân, cơm ăn không đủ bữa, bần cùng khốn khổ, lẽ sống của con người hầu như không còn gì nữa.
Sự trộm cướp đã có khổ báo như thế, ngày nay chúng con chí thành cầu xin sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay, chúng con hoặc trộm tiền tài, bảo vật kẻ khác, hoặc cầm dao cưỡng đoạt hoặc tự mình xông đến bức người lấy của, hoặc ỷ quyền nương vào thế lực, dùng kìm to kẹp lớn ép chế oan người lương thiện, hoặc thâu tiền đút lót của bọn gian, đánh khảo người ngay buộc cho là tà vậy, vì những nguyên nhân ấy khiến họ xa vào lưới pháp luật, hoặc ăn tiền của kẻ dưới khiến họ dung túng làm bậy, hoặc lấy của công làm lợi riêng, lấy của riêng vào việc công, làm tổn hại người kia đem lợi cho người này, làm tổn hại người này đem lợi cho người kia, lấy bớt của kẻ khác làm lợi cho mình, miệng hay nói bố thí mà tâm thì bỏn sẻn, ăn cắp thuế ruộng, thuế chợ, trốn thuế đò ải, bớt của công để dùng vào việc riêng, dấu sưu dịch để sai làm việc mình. Những tội như thế ngày nay đều xin sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay, hoặc những vật của Phật, Pháp, Tăng không cho mà lấy, hoặc vật thuộc về kinh tượng hoặc vật dùng để cất chùa xây tháp, hoặc vật dùng để cúng dàng Thường Trụ Tăng hay chư Tăng tại chùa, hoặc trộm cắp lấy lầm, cậy thế không trả lại, hoặc tự mình vay mượn, hoặc cho người khác vay mượn, hoặc đổi chác vay mượn mà quên sót, hoặc đem của Tam Bảo dùng không phải chỗ, tiêu pha lãng phí, hoặc lấy những vật như thóc, gạo, củi, rác, muối, đậu, tương, dấm, rau dưa, hoa, quả, tiền, vải, tre, gỗ, lụa là, phan lọng, hương hoa, dầu đèn, tùy mình mặc ý tự mình lấy dùng, hay cho người khác dùng; hoặc trích hoa quả cúng Phật, hay dùng đồ vật chúng Tăng, hoặc lấy của Tam Bảo làm của riêng mình. Những tội như thế vô lượng vô biên, ngày nay chúng con hổ thẹn, đều xin sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay, hoặc chỗ bạn bè qua lại sư Tăng đồng học hay cha mẹ anh em, bà con quyến thuộc cùng ở chung nhau, mà trăm món cần dùng lừa dối gạt gẫm nhau, hoặc đối xóm giềng gần gũi dời rào, xê tường, xâm lấn đất nhà người khác, đổi mốc, thay nêu, cướp giựt tiền của, bao chiếm ruộng vườn, mượn tiếng việc công để làm lợi riêng, sang đạt hàng quán rẫy bái của người. Những tội như thế ngày nay đều xin sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay, hoặc đánh phá thành ấp, đốt làng phá dậu (hàng rào) buôn bán lương dân, dụ dỗ tôi tớ của người, hoặc áp chế oan những kẻ vô tội, hoặc bị đâm chém máu rơi thịt nát, thân bị đày ải, gia sản tan nát, cốt nhục chia lìa, mỗi người một cõi, sống chết cách tuyệt. Những tội như thế vô lượng vô biên, ngày nay đều xin sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay, buôn bán hàng hóa, lập quán đổi chác đồ vật, dùng cân non, đấu nhỏ, giảm bớt thước tấc, xén lấn phân thù, lường gạt từng ly, đem của xấu đổi lấy của tốt, đem thứ ngắn đổi thứ dài, giả dối trăm chiều để mong cầu chút lợi. Những tội như thế, ngày nay chúng con đều xin sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay, hoặc khoét vách đào tường, chặn đường cướp đoạt, hoặc trốn nợ, xén bớt tài lợi, hoặc phụ tình trái hẹn, ngoài mặt lừa dối, trong lòng mưu toan, hoặc cướp giựt trái đạo, đồ vật của quỷ thần, cầm thú, chúng sinh, hoặc mượn cớ coi quẻ coi tướng để gạt lấy tài sản của người, như thế cho đến đem lợi cầu lợi, cầu cách vô đạo, cầu cách tham lam, không biết chán, không biết đủ. Những tội lỗi như thế vô lượng vô biên, không thể nói hết, ngày nay chúng con chí thành, hướng về mười phương chư Phật, Tôn Pháp, Thánh chúng, đều xin sám hối.

Nguyện do công đức sám hối những tội trộm cướp ấy, chúng con đời đời kiếp kiếp được ngọc như ý thường xuất sinh bảy món trân bảo, y phục cực đẹp, đồ ăn đủ vị, đủ các thứ thuốc men, tùy ý muốn vật chi tức có liền vật ấy, lại nguyện cho tất cả chúng sinh không ai còn tưởng đến sự trộm cướp, ít ham muốn, biết vừa đủ, không đắm nhiễm, thường vui lòng bố thí, thực hành đạo cứu tế, bỏ đầu, mắt, tủy, não như đã bỏ đờm rãi, để mong thành tựu bố thí ba la mật.

Kế đến chúng con… xin sám hối tội tham ái. Trong kinh nói: “Chỉ vì tham dục nên bị giam hãm trong ngục si mê, chìm đắm trong vòng sinh tử, không biết ngõ ra”. Chúng sinh vì say đắm ngũ dục, nên từ xưa tới nay bị lưu chuyển mãi trong đường sinh tử. Giá cứ lấy xương tất cả chúng sinh trong muôn ngàn kiếp chất đống lại thì bằng núi Tỳ-phú-la ở thành Vương-xá, sữa mẹ cho bú nhiều như nước bốn biển, máu huyết trong mình chảy ra còn hơn thế nữa, nước mắt cha mẹ anh em bà con quyến thuộc thương khóc khi lâm chung cũng nhiều như nước bốn biển. Vì thế nên nói: Còn tham ái thì còn sinh tử, hết tham ái thì hết sinh tử. Thế mới biết tham ái là gốc sinh tử. Trong kinh nói: “Tội dâm dục hay khiến chúng sinh bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, chịu khổ vô cùng”. Nếu ở trong loài súc sinh phải làm chim bồ câu, chim sẻ, chim uyên ương. Nếu sinh trong loài người thì gặp vợ (hay chồng) phụ bạc, bà con toàn với những người trái ý. Sự dâm dục có quả báo xấu xa như thế, nên ngày nay chúng con chí thành cầu xin sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay, chúng con hoặc quyến rũ thê thiếp chiếm đoạt vợ con của người, hoặc làm ô nhục ni cô, phá phạm hạnh người khác, hiếp bức một cách vô đạo, đem tâm bất chính, xem ngó lẳng lơ, nói cười bỡn cợt, hoặc điếm nhục thanh danh gia tộc của người, hoặc làm nhơ tiếng tốt của người, hoặc làm hạnh bất tịnh với năm hạng người bán nam bán nữ. Những tội như thế thật vô lượng vô biên, ngày nay chúng con đều xin chí thành sám hối.

Nguyện nhờ công đức sám hối những tội dâm dục ấy, đời đời kiếp kiếp được tự nhiên hoá sinh, không do bào thai, được thanh khiết sáng sủa, tướng mạo quang minh, sáu căn tỏ rõ, thông minh lanh lợi, hiểu rõ ân ái là cùm xích bó buộc, xét kỹ sáu trần là trò huyễn hóa, mà quyết định xa lìa cảnh ngũ dục, cả đến trong giấc mộng cũng không nghĩ điều bất chính, những điều mê hoặc ở trong ở ngoài, không thể động tâm.

Sám hối phát nguyện rồi, chúng con xin đem hết thân mạng kính lễ Tam Bảo.
Chúng con trước đã sám hối ba nghiệp ác của thân, nay xin theo thứ lớp sám hối bốn nghiệp của miệng.
Trong kinh nói: “Những tội, nghiệp do miệng gây ra, thường làm chúng sinh bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ chịu khổ vô cùng. Nếu đầu thai vào loài súc sinh phải làm thân chim cú, chim mèo, tiếng kêu đáng ghét. Nếu được sinh vào loài người thì hơi miệng hôi thối, nói không ai tin, còn trong bà con quyến thuộc thường xảy bất hòa, đánh lộn cãi lẫn. Nghiệp của miệng đã có những ác quả như thế, nên ngày nay chúng con chí thành quy y Tam Bảo cầu xin sám hối.

Chúng con… từ vô thủy đến nay, vì nghiệp ác khẩu nên phải ở trong bốn nẻo, sáu loài, tạo nhiều tội lỗi, nói năng thô tháo, lời lẽ hung bạo ngang tàng, không biết tôn ty, đối với kẻ thân người sơ, kẻ sang người hèn, hơi trái ý mình, đã nổi giận hờn la mắng. Mắng nhiếc hủy nhục nhiều điều hèn hạ xấu xa, ác độc, không chừa điều chi, khiến cho người khác ôm hận suốt đời không quên, gây họa kết thù chả bao giờ dứt, lại còn oán thán trời đất, trách móc quỉ thần, chê bai các bậc hiền thánh, vu oan điếm nhục người lương thiện. Những tội nghiệp do ác khẩu gây ra như thế thật vô lượng vô biên, ngày nay chúng con đều xin chí thành sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay, vì nghiệp nói dối, tạo ra bao nhiêu tội lỗi: Trong ý mong cầu danh dự, lợi dưỡng, giấu diếm tình thực, dối trá đủ điều, trong tâm mê muội, ngoài mặt dạn dày, chuyện có nói không, chuyện không nói có, thấy nói không thấy, không thấy nói thấy, nghe nói không nghe, không nghe nói nghe, biết nói không biết, không biết nói biết, làm nói không làm, không làm nói làm, khinh miệt Thánh hiền, lừa đảo dối hoặc người đời, đến như cha con, vua tôi, họ hàng, bè bạn mà nói năng gì cũng không khi nào thành thực, khiến người khác lầm nghe mình đến nỗi phải tan nhà mất nước. Lại còn giả trò yêu thuật, thường tự khen mình, khoe mình đã chứng tới bậc tứ thiền, tứ vô sắc định, an na bát na, mười sáu quán hạnh, chứng bậc Tu đà hoàn, đến bực A la hán, Bích Chi Phật, bậc Bất thoái Bồ Tát và thiên long quỷ thần, thần gió, thần đất đều đến bên mình, lại bầy trò lạ mê hoặc lòng người để mong cung kính cúng dâng, bốn món cần dùng. Những tội nghiệp do vọng ngữ gây ra như thế, vô lượng vô biên, ngày nay chúng con đều xin chí thành sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay, vì nghiệp nói thêu dệt (ỷ ngữ) tạo ra bao nhiêu tội lỗi: dùng âm từ hoa mỹ, văn chương bóng bẩy, xuyên tạc sự sai lầm, trang sức điều trái quấy, khéo đặt những bản ca hát hình dung vẻ yêu kiều, mô tả thói dâm ô, khiến cho hạng trung lưu, hạ lưu động tâm đãng tính, say đắm tửu sắc không thể tự giác. Hoặc phóng túng tư thù, không kể lời nghị bàn công chính, dẫu người kia là bậc trung thần, hiếu tử hay là chí sĩ, hiền nhân vẫn cứ làm văn thêu dệt lên tội, để người đời sau tin cho là thật, khiến người kia phải ôm hận dưới cửu tuyền không biết đâu biện bạch.
Những tội nghiệp do ỷ ngữ gây ra như thế, vô lượng vô biên, ngày nay chúng con đều xin chí thành sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay, vì nghiệp nói hai lưỡi gây ra bao nhiêu tội lỗi: khen trước mặt, chê sau lưng, xảo trá trăm chiều, tới người kia nói chuyện người này, tới người này nói chuyện người kia, chỉ biết lợi mình, không nhìn hại đến kẻ ác, dèm siểm để ly gián vua tôi, vu oan hủy nhục người lương thiện để cho vua tôi nghi kỵ nhau, cha con bất hòa nhau, để vợ chồng bỏ nhau, họ hàng thân thích xa nhau, làm mất ơn thầy trò, dứt đường lui tới bạn bè, cả đến làm cho hai nước đang giao hảo nhau phải huỷ bỏ minh ước, mất hoà khí, gây sự oán thù, đem binh đánh nhau, giết hại trăm họ. Nghiệp nói hai lưỡi gây ra tội lỗi vô lượng vô biên như thế, ngày nay chúng con chí thành hướng về mười phương chư Phật, Tôn pháp, Thánh chúng đều xin giãi bày cầu ai sám hối.

Nguyện nhờ công đức sám hối bốn nghiệp ác khẩu, đời đời kiếp kiếp được đầy đủ tám thứ âm thanh, bốn món biện tài, thường nói những lời hòa hợp lợi ích, giọng nói thanh nhã ai cũng muốn nghe, lại được hiểu rõ ngôn ngữ chúng sinh. Nếu có nói chi đều được thích hợp căn cơ, khiến cho ai nghe cũng được tỏ ngộ, nhập Thánh siêu phàm, mở phát tuệ nhãn.
Sám hối và phát nguyện rồi, xin đem hết thân mạng kính lễ Tam Bảo.
Trước đã sám hối ba nghiệp ác của thân, bốn nghiệp ác của miệng, nay xin theo thứ lớp sám hối những tội chướng do sáu căn gây ra.

Chúng con… từ vô thủy đến nay, mắt vì hình sắc ở ngoài làm mê hoặc, ham thích những màu đen, vàng, đỏ, tía, xanh, cùng những đồ chơi trang sức quý giá; hoặc thấy tướng mạo đàn ông, đàn bà cao, thấp, trắng, đen, cử chỉ yêu kiều diễm lệ, mà khởi ra tư tưởng phi pháp; hoặc tai ham nghe tiếng hay như cung, thương, đàn, sáo, ca hát, trò vè, hoặc nghe những giọng thanh tao, lời ăn nói tiếng khóc cười của đàn ông, đàn bà mà khởi ra những tư tưởng phi pháp; hoặc mũi thích ngửi mùi thơm của gỗ trầm, gỗ chiên đàn, long não, xạ hương hay mùi thơm của cây uất kim, cây tô hợp mà khởi ra những tư tưởng phi pháp; hoặc lưỡi ham nếm những vị ngon lành, tươi tốt, ngọt béo nên phải lấy máu thịt chúng sinh, để nuôi thân tứ đại, vun quén thêm cội khổ, mà khởi ra những tư tưởng phi pháp; hoặc thân mình ham muốn sự lòe loẹt, gấm, vóc lụa là, tất cả những thứ mượt dịu, y phục đẹp đẽ bằng thất trân, mà khởi ra những tư tưởng phi pháp; hoặc ý hay loạn tưởng nên gặp đâu cũng trái pháp. Bởi sáu căn tạo ra tội nghiệp vô lượng vô biên như thế, ngày nay chúng con chí thành hướng về mười phương chư Phật, Tôn pháp, Thánh chúng, đều xin sám hối.

Nhờ công đức sám hối tội lỗi do nhãn căn gây ra, chúng con nguyện mắt này thấy suốt pháp thân thanh tịnh của mười phương chư Phật, Bồ Tát, không bằng sự sai biệt.
Nhờ công đức sám hối tội lỗi do nhĩ căn gây ra, chúng con nguyện tai này thường được nghe chính Pháp của mười phương chư Phật, hiền Thánh đã nói và thực hành theo đúng theo giáo Pháp ấy.
Nhờ công đức sám hối tội lỗi do tỷ căn gây ra, chúng con nguyện mũi này thường ngửi hương thơm nhập pháp tính ở cõi Hương Tích, xa lìa mùi hôi thối bất tịnh của sinh tử.
Nhờ công đức sám hối do thiệt căn gây ra, chúng con nguyện lưỡi này thường ăn món ăn thiền duyệt pháp thực, không tham mùi máu thịt của chúng sinh.

Nhờ công đức sám hối tội lỗi do thân căn gây ra, chúng con nguyện thân này mặc được “áo Như Lai”, khoác “giáp nhẫn nhục”, nằm “giường vô úy”, ngồi “tòa pháp không”.

Nhờ công đức sám hối tội lỗi do ý căn gây ra, chúng con nguyện ý này thành tựu được mười lực, thông suốt được năm minh, xét rõ ý chân không bình đẳng của hai đế, theo trí tuệ phương tiện vào được dòng nước pháp tính, niệm niệm sáng suốt, phát hiển pháp vô sinh nhẫn của Như Lai.
Phát nguyện rồi, xin đem cả thân mạng kính lễ thường trụ Tam Bảo.

HẾT QUYỂN TRUNG

PHÁP TỪ BI
THỦY SÁM
(QUYỂN HẠ)
*

Tất cả chư Phật vì thương xót chúng sinh, mới nói pháp đạo tràng Thủy Sám. Ngày nay chúng con xin đem cả thân mạng, hướng về hết thảy chư Phật.

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô A Di Đà Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Di Lặc Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Long Tự Tại Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Bảo Thắng Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ca Sa Tràng Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Sư Tử Hống Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Trang Nghiêm Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)

Đảnh lễ chư Phật rồi thứ lại sám hối. Trên kia đã sám hối ba nghiệp của thân, bốn nghiệp của miệng. Bây giờ chúng con xin sám hối tất cả nghiệp chướng đối với Phật, Pháp, Tăng.

Trong kinh Phật dạy: “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe, chúng Tăng khó gặp, tín tâm khó sinh, sáu căn khó đủ, bạn tốt khó gặp”. Ngày nay chúng ta nhờ kiếp trước đã gây nhiều căn lành, nên mới được làm thân người, sáu căn đầy đủ, lại gặp bạn lành, được nghe chính Pháp. Nếu trong lúc này, không hết lòng tinh tiến tu hành, ắt sau này sẽ bị chìm đắm trong muôn nghìn khổ đau, không biết ngày nào ra khỏi. Bởi thế hôm nay, chí thành cầu xin sám hối.

Chúng con… từ vô thủy đến nay thường bị vô minh che tâm tính, phiền não chướng ý thức, thấy hình tượng Phật không hết lòng cung kính, khinh miệt chúng Tăng, tàn hại bạn tốt, phá tháp hủy chùa, thiêu đốt kinh tượng, làm hại thân Phật; hoặc mình ở nhà đẹp để tượng Phật, Bồ Tát ở chỗ thấp hèn, bẩn thỉu, khói hun nắng táp, gió thổi mưa chang, bụi đất dính đầy, chim chuột đục khoét; hoặc thờ chung trong phòng ngủ không từng kính lễ; hoặc ở trần trước tượng Phật, không sửa y phục trang nghiêm tề chỉnh; hoặc che đậy đèn đuốc, đóng kín cửa chùa, che lấp ánh quang minh chỗ Phật. Những tội như thế, ngày nay chúng con đều xin chí thành sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay, đối với Pháp Phật lấy tay bẩn cầm các quyển kinh hoặc đang khi đọc tụng, xen nói lời tục tĩu phi pháp; hoặc để kinh trên đầu giường, ngồi đứng không cung kính; hoặc để trong rương tráp sâu mọt ăn nát; hoặc cuốn tròn làm cho sổ rớt, mất nát thứ tự lộn lẫn bộ loại; hoặc lôi kéo vướng đứt, làm rách giấy mất chữ, tự mình không tu tập, không chịu lưu truyền. Những tội như thế, ngày nay chúng con đều xin chí thành sám hối.

Lại nằm dài nghe kinh, nằm ngửa tụng đọc, hoặc nói cười lớn tiếng, làm rộn người khác nghe Pháp; hoặc giải sai lời Phật dạy, nói khác Thánh ý, không phải chính Pháp nói là chính Pháp, chính là chính Pháp nói không phải là chính Pháp; chẳng phạm nói phạm, phạm nói chẳng phạm; tội nhẹ nói nặng, tội nặng nói nhẹ; hoặc sao chép kinh sách đoạn trước để đoạn sau, đoạn sau đem để đoạn trước, hoặc đoạn trước đoạn sau đem để vào giữa, hoặc đoạn giữa đem để ra trước sau; hoặc thêu dệt lời văn trong kinh Phật để làm sách riêng của mình; hoặc vì danh dự lợi dưỡng, cung kính mà nói pháp; không lòng vị pháp, chỉ vì muốn tìm lỗi của Pháp sư mà bàn luận nghĩa lý; không vì tăng tiến sự hiểu biết để cầu pháp xuất thế, mà chỉ đàn hạch một cách vô lý, hoặc khinh mạn lời Phật, tôn trọng tà giáo, chê bai Đại thừa, khen ngợi Thanh Văn. Những tội như thế vô lượng vô biên, ngày nay chúng con đều xin sám hối.
Lại từ vô thủy đến nay, đối với chúng Tăng gây ra các nghiệp chướng, như giết bậc A-la-hán, phá sự hòa hợp của chúng Tăng, hại những người phát tâm Vô thượng Bồ Đề, dứt tuyệt giống Phật, làm cho Thánh đạo không lưu hành được, hoặc lột xẻ người tu hành tra khảo bậc Sa-môn, đánh đập đầy đọa, dùng lời thô bỉ mắng nhiếc; hoặc phá giới hạnh thanh tịnh làm mất hết uy nghi; hoặc khuyên người khác bỏ đạo bát chính; hoặc giữ và thực hành theo năm phép tà; hoặc giả dạng nhà sư trộm của thường trụ tiêu xài việc riêng. Những tội như thế, ngày nay chúng con đều xin sám hối.

Hoặc để mình trần hay mặc y phục mỏng manh đường đột đến trước kinh tượng; hoặc mang giày bẩn thỉu đi vào điện Phật, dẫm lên tháp Phật; hoặc mang guốc vào chùa, khạc đàm nhổ nước miếng trong nhà thiền, làm dơ nhớp chỗ Phật và chúng Tăng ở; hoặc đánh xe cưỡi ngựa xông pha trong chùa chiền, tịnh xá. Phàm đối với Tam Bảo mà khởi ra những tội lỗi như thế, thật vô lượng, vô biên, ngày nay chúng con chí thành hướng về mười phương chư Phật, Tôn Pháp, Thánh chúng, cầu xin sám hối.

Nguyện nhờ công đức sám hối ấy, chúng con đời đời kiếp kiếp thường gặp được Tam Bảo để tôn ngưỡng cung kính, không bao giờ chán nản, lại có gấm lụa tốt đẹp, anh lạc quý giá, trăm nghìn âm nhạc, các món danh hương, các thứ hoa quả tốt tươi có đủ những vật sở hữu trên đời để cúng dàng. Nếu có vị nào thành Phật chúng con nguyện đến trước khuyến thỉnh mở cửa cam lồ cứu độ chúng sinh. Nếu có vị Phật nào nhập Niết Bàn, chúng con nguyện được cúng dàng một lần sau chót. Còn như trong hằng chúng Tăng, chúng con nguyện tu sáu pháp hòa kính, được sức tự tại, trùng hưng Tam Bảo, trên hoằng dương đạo Phật, dưới hóa độ chúng sinh.

Những tội hoặc nặng hoặc nhẹ đối với Tam Bảo đã sám hối rồi, còn lại những tội ác khác chúng con xin theo lớp sám hối hết thảy. Như trong kinh nói: “Có hai hạng người được mạnh mẽ: một là tự mình không gây tội, hai là đã gây tội mà biết ăn năn sám hối”. Lại có hai phương pháp trong sạch, có thể làm cho chúng sinh diệt trừ được các món chướng ngại: một là biết hổ nên tự mình không làm ác, hai là biết thẹn, nên không xúi người khác làm ác. Có hổ thẹn như thế mới gọi là người. Nếu không biết hổ thẹn thì cũng không khác cầm thú. Bởi vậy ngày nay chúng con chí thành quy y Phật, xin đúng theo pháp mà sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay, vì mê tín tà kiến nên giết hại chúng sinh để cúng tấu quỷ thần, lỵ mỵ vọng lượng, cầu được sống lâu, nhưng không bao giờ được; hoặc nói dối thấy ma quỷ, rồi giả xưng là thần nói để gạt người. Những tội như thế, ngày nay chúng con đều xin sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay, hoặc hành động láo xược, tự cao tự đại, hoặc ỷ dòng quý tộc khi để mọi người, cậy mình sang trọng khinh kẻ hèn hạ, hoặc ỷ sức mạnh ăn hiếp kẻ yếu, hoặc uống rượu rồi gây sự loạn đả không kể người thân sơ, say sưa suốt ngày không biết tôn ti. Những tội như thế ngày nay chúng con đều xin sám hối.

Lại như tham ăn uống không tiết độ, ăn gỏi thịt gỏi cá, hoặc ăn năm thứ cay nồng mùi hôi bay lên xông uế các kinh tượng, xua đuổi những kẻ tu hành giữ giới thanh tịnh; buông lung tâm ý, xa lìa người lành, gần gũi bạn ác. Những tội như thế, ngày nay đều xin sám hối.

Lại có tính cống cao, bày điều giả dối, bắt người khác theo mình, càn bướng cố chấp cho mình là hay, ương ngạnh chống báng không biết nhân tình, cho mình là phải, người khác là quấy, và hay hy vọng ở sự may rủi. Những tội như thế, ngày nay đều xin sám hối.

Còn lâm đến chỗ tiền tài thì lại không nhường nhịn, không liêm sỉ; mua bán rượu thịt lừa dối để sống, hoặc cho vay nặng lời, tính từng ngày từng giờ góp chứa một cách cay nghiệt, tham cầu không biết chán; hưởng thụ của dâng cúng không biết hổ thẹn; hoặc không giới đức mà lạm nhận của tín thí. Những tội như thế, ngày nay đều xin sám hối.

Và đánh đập tôi tớ, sai khiến trẻ con làm việc nặng không kể đến sự đói khát lạnh nóng của chúng; hoặc phá dỡ cầu cống làm ngăn trở sự đi lại. Những tội như thế, ngày nay đều xin sám hối.

Lại để mặc ý mình phóng túng, lung lăng tán loạn, chỉ để thì giờ đánh xu bồ, đánh cờ tướng, hoặc vây đoàn hợp lũ uống ăn rượu thịt, chén tạc chén thù làm rối cho nhau; nói chuyện vu vơ, hay bàn luận chuyện thiên hạ, hết năm này qua năm khác để ngày giờ trôi qua không lợi ích gì; mỗi đêm ba thời không tụng kinh ngồi thiền, lười biếng; giải đãi cứ nằm dài suốt ngày không để tâm quán sáu món niệm xứ thấy người khác có việc hơn mình, lại sinh ghen ghét, ôm lòng hiểm độc, khởi đủ phiền não, để cho gió lốc vật dục thổi vào củi lửa tội lỗi, cháy luôn không ngớt thiêu mất những điều lành nhỏ của ba nghiệp. Khi những pháp lành đã hết thì hóa ra nhất xiển đề, đọa vào địa ngục lớn, không có kỳ hạn ra được. Bởi thế nên ngày nay, chúng con cúi đầu hướng về mười phương Tam Bảo xin sám hối hết thảy. Tất cả tội lỗi từ trước đến nay hoặc nhẹ nặng hoặc thô hoặc tế, hoặc tự mình làm, hoặc bảo người khác làm, hoặc thấy người khác làm vui mừng, hoặc dùng thế lực bắt buộc người khác làm, cả đến những tội khen người làm ác, ngày nay chúng con chí thành đều xin sám hối.

Nguyện nhờ công đức sám hối các tội ác ấy, chúng con đời đời kiếp kiếp được từ hòa, trung hiếu, khiêm nhường, nhẫn nhục, biết liêm sỉ, biết chào đón trước, sửa mình chính đáng, trong sạch nhân nghĩa, nhường nhịn, xa lìa bạn ác, thường gặp duyên lành, thâu nhiếp được sáu căn, giữ gìn được ba nghiệp, nhẫn nại được khổ nhọc, tâm không thoái lui, cứ lập chí tu hành đắc đạo, không phụ bạc chúng sinh.
Phát nguyện rồi đem hết thân mạng kính lễ chư Phật.

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô A Di Đà Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Di Lặc Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Long Tự Tại Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Bảo Thắng Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ca Sa Tràng Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Sư Tử Hống Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Trang Nghiêm Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)

Trước đã sám hối những phiền não chướng, nghiệp chướng, nay theo thứ lớp giãi bày những quả báo chướng còn lại, xin sám hối hết thảy.

Trong kinh nói: “Khi nghiệp báo đã đến, chẳng phải trong không trung, trong biển, trong hang núi, không có chỗ nào thoát khỏi được quả báo, chỉ có sức sám hối mới có thể diệt trừ”. Vì sao biết được? Vì như ông Thích Đề Hoàn Nhân khi thấy năm tướng suy hiện ra, trong lòng khiếp sợ bèn chí thành quy y Tam Bảo, thì năm tướng xấu ấy liền tiêu diệt, lại còn thêm tuổi thọ. Những chuyện như thế trong kinh rất nhiều không phải là một. Thế mới biết sự sám hối hay diệt trừ được tai họa.

Song kẻ phàm phu nếu không gặp bạn tốt dẫn đường, thời không có việc ác nào mà không làm, đến nỗi khi sắp chết, cảnh địa ngục gớm ghê hiện ra trước mắt, chính lúc ấy lại hối hận, sợ hãi. Ôi! Ngày trước không tu điều lành để đến ngày cùng ăn năn, thì ăn năn sao kịp. Phước báo hay tai ương tự mình gieo trồng từ trước, nay cứ thẳng lối mà vào địa ngục, một mình mình đi đến, để lăn vào vạc dầu sôi, thân tâm tan nát, tinh thần thống khổ. Tới lúc đó dầu muốn lạy hay sám hối một câu, cũng không dễ gì được nữa.

Vì thế, tất cả mọi người chớ ỷ mình tuổi trẻ sức mạnh có tiền tài thế lực mà lười biếng, giải đãi, tự ý buông lung. Một khi khổ chết đã đến thì không luận già, trẻ nghèo, giàu, sang, hèn đều tiêu ma hết. Quỷ vô thường đến thình lình không cho ai biết trước. Mạng người vô thường như giọt sương mai, một hơi thở ra tuy có đó, nhưng hơi hít vào không chắc gì còn được. Thế vì cớ chi mà không sám hối? Nếu sứ giả ngũ thiên hay quỷ La sát thoạt nhiên đi đến, dầu tuổi trẻ sức mạnh đến đâu cũng không thể tránh. Lúc đấy dầu có nhà đẹp lầu cao cũng không ích gì đến người, xe tốt ngựa hay không đem theo được, vợ con quyến thuộc cũng không còn là người thân, những đồ thất trân quý giá cũng chỉ để cho người khác hưởng. Lấy đó mà nói thì quả báo ở đời đều giả dối không chắc thật. Còn như ở cõi trời tuy vui thật, nhưng rốt cuộc cũng sẽ tan nát. Khi sự sống hết thì vẫn phải đọa lạc trong tam đồ. Vì thế Phật bảo ông Tu Đạt Đa: “Thầy ngươi là Uất Đầu Lam Phất lợi căn sáng suốt, đã hàng phục được phiền não, đến cõi trời Phi-phi-tưởng rồi, mà khi mạng chung còn phải đọa vào đường súc sinh làm con phi li huống chi người khác”, Thế mới biết hễ chưa lên tới quả Thánh, thì còn bị luân chuyển qua các đường ác. Nếu không cẩn thận, một mai thình lình thân chịu chỗ đó, thiệt đáng hối hận. Xem như ngày nay bị tội phải đến cửa công, đó là khổ nhỏ mà tâm tình đã sợ hãi, quyến thuộc đã khủng khiếp cầu cứu trăm bề. Đối với nỗi khổ trong địa ngục còn gấp trăm ngàn vạn lần hơn, không thể so sánh được.

Chúng con cùng nhau trải vô số kiếp, tội lỗi chồng chất như núi Tu Di, nghe như vậy làm sao cứ an nhiên không sợ hãi, không kinh khủng, để về sau mắc phải những nỗi khổ ấy, đáng đau đớn biết bao! Vì thế ngày nay, chúng con chí thành cầu xin sám hối.

Lại từ vô thủy đến nay, chúng con… có nhiều báo chướng nhưng nặng nhất chỉ có địa ngục A Tỳ. Như trong kinh đã nói rõ, nay xin nói sơ về tình hình của địa ngục A Tỳ.

Chung quanh ngục có bảy lớp thành sắt, có bảy lần lưới sắt giăng kín ở trên, phía dưới có bảy từng dao sắt rậm như rừng và vô số ngọn lửa dữ luôn thiêu đốt. Bề dài bề rộng của ngục này tính có tám muôn bốn nghìn do tuần. Tội nhân đầy trong ấy, nhưng vì nhân duyên của tội nghiệp nên không làm trở ngại. Lửa phía trên hắt xuống, lửa ở dưới bốc lên, lan khắp bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc. Tội khổ trong ngục ấy như cá bị chiên trong chảo, dầu mỡ đều chảy ra. Ở bốn cửa thành có bốn con chó đồng, thân hình dài rộng đến bốn nghìn do tuần, nanh dài móng nhọn, mắt sáng như điện chớp. Lại có vô số giống chim mỏ sắt, vỗ cánh bay lên mổ khoét thịt người có tội. Quỷ sứ đầu trâu hình như La-sát, có chín đuôi như đinh ba bằng sắt, lại có chín đầu, trên đầu có mười tám sừng, mỗi sừng có sáu mươi bốn mắt, từ mỗi con mắt tiết ra sức nóng như thiêu đốt tội nhân. Mỗi khi nóng giận chúng gào thét tiếng vang như sấm. Lại vô số bánh xe dao, từ trên không trung quay xuống, xoáy vào đỉnh đầu tội nhân, rồi xoáy xuống chân mà ra ngoài. Tội nhân đau đớn thấu xương tủy, nhức nhối tận tim gan, cứ như thế trải qua không biết bao nhiêu năm, cầu sống không được cầu chết không được. Những tội báo như thế, ngày nay chúng con hổ thẹn, cúi đầu xin sám hối.

Kế đến chúng con xin sám hối những tội báo: đầu, thân rơi rã trong địa ngục đao sơn, kiếm thụ bị thiêu nướng trong địa ngục vạc dầu, lò than; sám hối những tội báo bị thiêu đốt trong địa ngục giường sắt, cột đồng; sám hối những tội báo bị đè nghiến mổ xẻ trong địa ngục xe dao, xe lửa; sám hối những tội báo trong địa ngục kéo lưỡi để trâu cày; sám hối những tội báo làm cho ngũ tạng cháy thiêu trong địa ngục nuốt hòn sắt nóng, uống nước đồng sôi; sám hối những tội báo xương thịt nát tan trong địa ngục cột sắt; sám hối những tội báo da, thịt, xương, tủy rơi lìa từng mảnh trong địa ngục quấn dây sắt nóng; sám hối những tội báo bị bứt rứt ngạt thở trong địa ngục sông tro phẩn; sám hối những tội da dẻ lạnh cóng nứt da trong địa ngục nước mặn đóng giá băng; sám hối những tội báo tàn hại lẫn nhau trong địa ngục chó sói, chim sắt, chó săn; sám hối những tội báo đâm chém cấu xé nhau trong địa ngục đao binh móng vuốt; sám hối những tội báo bị rang nướng trong địa ngục hầm lửa; sám hối những tội báo bị hình hài tan nát trong địa ngục hai tảng đá ép lại; sám hối những tội báo bị róc lột trong địa ngục bốn bề núi đá xô ép lại; sám hối những tội báo bị chém xẻ trong địa ngục núi thịt u ám; sám hối những tội báo bị chặt đứt trong địa ngục cưa xẻ đóng đinh; sám hối những tội báo bị mổ cắt trong địa ngục gậy sắt, treo ngược; sám hối những tội báo phiền oán trong địa ngục đốt nóng kêu gào; sám hối những tội báo chịu cảnh đêm dài mù mịt không bóng mặt trời mặt trăng và sao trong khoảng lớn nhỏ núi Thiết Vi; sám hối những tội báo trong địa ngục A-ba-ba, địa ngục A-bà-bà, địa ngục A-tra-tra, địa ngục A-la-la. Trong tất cả các địa ngục lạnh nóng như thế có phụ thêm tám muôn bốn ngàn địa ngục cách tử.

Những tội khổ trong đó bị chiên nấu đau đớn, bị lột da róc thịt, chẻ xương, đập tủy, rút ruột, bức phổi, nhiều nỗi khổ khác không thể nghe không thể nói. Nam mô Phật; những người bây giờ đang bị đọa vào các chốn ấy hoặc là cha mẹ hay họ hàng của chúng con trong vô thủy kiếp chúng con cùng họ, sau khi chết sẽ bị đọa trong các địa ngục như thế.

Ngày nay chúng con rửa sạch lòng trần, cúi đầu hướng về mười phương chư Phật, các bậc đại Bồ Tát cầu xin sám hối, khiến cho tất cả tội báo kia đều tiêu diệt.

Nguyện nhờ công đức sám hối những tội báo trong địa ngục, chúng con phá được bức thành sắt chốn A Tỳ làm thành cõi Tịnh Độ, không còn cái tên “ác đạo” bao nhiêu thống khổ sợ sệt trong các địa ngục đều chuyển thành những duyên vui sướng; núi dao rừng kiếm biến ra rừng báu; lò lửa vạc dầu hóa thành hoa sen; lính ngục đầu trâu chừa bỏ sự bạo ngược, khởi lòng Từ Bi không còn niệm ác. Và chúng sinh trong đường địa ngục thoát khỏi quả khổ, không gây thêm nhân ác khác, thụ hưởng sự yên vui như ở cõi Tam Thiền, đồng thời phát tâm cầu đạo vô thượng.

Sám hối và phát nguyện xong, xin hết lòng kính lễ Thường Trụ Tam Bảo.
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô A Di Đà Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Di Lặc Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Long Tự Tại Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Bảo Thắng Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ca Sa Tràng Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Sư Tử Hống Phật. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Trang Nghiêm Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát. (1 chuông) (1 lễ)

Đảnh lễ chư Phật rồi thứ lại sám hối. Trước đã sám hối những tội báo trong địa ngục, nay xin sám hối những tội báo trong ba đường ác. Trong kinh Phật nói: “Con người vì nhiều ham muốn nhiều tham cầu lợi dưỡng nên khổ não cũng nhiều”. Người biết đủ tuy nằm dưới đất mà vẫn lấy làm yên vui, người không biết đủ, dù ở thiên đường cũng không vừa ý. Song người đời nếu thình lình có tai nạn nguy cấp thì thường bỏ hết tài sản không kể gì nhiều ít. Thế mà không biết thân này khi lâm vào hố thẳm tam đồ, hễ một hơi thở không trở lại thì phải bị đọa lạc. Thoảng như có người tri thức khuyên làm việc công đức để dự trữ pháp lành cho đời sau, thì lại cứ cố chấp keo bẩn không chịu làm theo lẽ phải. Những người như thế thật ngu hoặc biết bao! Vì sao? Trong kinh Phật nói: “Lúc sinh không đem lại một đồng nào, lúc chết cũng không cầm được một đồng nào đem đi”. Người đời phải khổ thân để góp chứa tiền của, chỉ đèo thêm sự lo âu phiền muộn không ích gì cho mình, mà người khác hưởng hết. Không chút duyên lành, không một mảy công đức để nhờ cậy, đến nỗi khi chết phải bị đọa vào đường ác. Vì vậy ngày nay chúng con chí thành đem thân mạng nương về ngôi Tam Bảo, cầu xin sám hối.

Kế đến chúng con xin sám hối những tội báo ngu tối trong loài súc sinh; sám hối những tội báo mang nặng kéo cày đền nợ cũ trong đường súc sinh; sám hối những tội báo bị người đâm xẻ, mổ, cắt không được tự do trong đường súc sinh; sám hối những tội báo không chân, hai chân, bốn chân hay nhiều chân trong loài súc sinh; sám hối những tội báo trong lông, cánh, mai, vẩy, trong thân bị các giống trùng nhỏ cắn rỉa, ở loài súc sinh. Trong loài súc sinh có vô số tội báo như thế, ngày nay đều xin chí thành sám hối.

Chúng con lại xin sám hối những tội báo luôn luôn chịu sự đói khát trải qua trăm ngàn vạn năm không nghe đến tên cơm nước trong loài ngạ quỷ; sám hối những tội báo ăn uống máu mủ phân dơ trong loài ngạ quỷ; sám hối những tội báo mỗi khi động thân thì tất cả chi tiết đều cháy trong loài ngạ quỷ; sám hối những tội báo bụng lớn cổ nhỏ trong loài ngạ quỷ. Trong loài ngạ quỷ, có vô số tội báo như thế, ngày này cúi đầu cầu xin sám hối.

Chúng con lại xin sám hối những tội báo hay nịnh hót kiêu mạn trong loài Tu-la, quỷ thần; sám hối những tội báo gánh cát mang đá lấp sông trấn biển trong loài quỷ thần; sám hối những tội báo ăn uống máu thịt, chịu đủ mọi sự xấu xa trong loài quỷ thần La-sát, Cưu-bàn-trà. Trong loài quỷ thần có vô lượng vô biên tội báo như thế, ngày nay chúng con hướng về mười phương chư Phật, đại địa Bồ Tát, cầu xin sám hối, khiến cho những tội báo ấy đều tiêu diệt.

Nguyện nhờ công đức sám hối những tội báo trong đường súc sinh, chúng con đời đời kiếp kiếp diệt hết tất cả ngu si, biết được nghiệp duyên của mình, trí tuệ sáng suốt, không làm thân trong các đường ác.
Nguyện nhờ công đức sám hối những tội báo trong đường ngạ quỷ, chúng con đời đời kiếp kiếp lìa khổ xan lận, đói khát, thường được ăn những pháp vị cam lộ giải thoát.

Nguyện nhờ công đức sám hối những tội báo trong đường Tu-la quỷ thần, chúng con đời đời kiếp kiếp tính tình chất trực xa hẳn nhân tà mạng, trừ các quả báo xấu xa, và làm được nhiều phúc lợi cho cả nhân thiên.

Chúng con… nguyện từ nay trở đi cho đến đạo tràng, không còn chịu những tội báo trong bốn đường ác, chỉ trừ lòng đại bi cứu độ chúng sinh, lấy sức thệ nguyện ở chung trong ấy, không khi nào chán nản.

Chúng con…. đã sám hối những tội báo trong ba đường ác, nay theo thứ lớp cầu xin sám hối những tội báo chốn nhân thiên.

Chúng con cùng nhau thọ bẩm thân mạng ở cõi Diêm-phù này, tuy nói một trăm năm chớ có mấy ai sống trọn. Trong thời gian đó, số người trẻ tuổi chết non không thể nào lường, những khổ não còn nung nấu bức bách thân hình, lo rầu sợ hãi không ngớt phút nào. Sở dĩ như thế, bởi căn lành rất ít, nghiệp ác quá nhiều, đến nỗi trong đời hiện tại làm việc gì cũng không được vừa ý. Nên biết đó là dư báo của những việc ác ở đời quá khứ còn lại. Bởi thế nên ngày nay, chúng con xin sám hối vô lượng dư báo ấy trong cõi nhân thiên từ vô thủy cho đến đời hiện tại và vị lai; sám hối những tội báo tai ương túc trái, tàn tật trăm bệnh, sáu căn không đủ ở cõi người; sám hối những tội báo sinh vào nơi hoang dã cách xa mọi người, luôn bị tà kiến, tám nạn, ba ác; sám hối những tội báo bị nhiều binh hoạn, gầy còm, chết yểu, chết oan, ở cõi người; sám hối những tội báo bà con quyến thuộc không đoàn tụ, ở cõi người; sám hối những tội báo bị khổ vì bạn bè tan nát ân ái chia lìa, ở cõi người; sám hối những tội báo oán cừu gặp gỡ, ưu sầu khiếp sợ, ở cõi người; sám hối những tội báo bị nạn nước lửa, trộm cướp đao binh nguy hiểm, kinh khủng khiếp nhược, ở cõi người; sám hối những tội báo bị cô độc khốn khổ, lưu lạc, bôn ba quên mất xứ sở, ở cõi người; sám hối những tội báo bị tù ngục giam cầm, bị nhốt đứng trong ngục tối, bị đánh đập tra khảo ở cõi người; sám hối những tội báo bị miệng lưỡi công tư thêu dệt, vu họa ở cõi người; sám hối những tội báo bị bệnh tật liên miên liệt giường liệt chiếu không đứng dậy được ở cõi người; sám hối những tội báo bị các chứng ôn dịch về mùa Đông mùa Hạ, hay bị độc lệ thương hàn ở cõi người; sám hối những tội báo bị trúng gió độc, bị thũng, trướng, bị kết, ở cõi người; sám hối những tội báo bị các ác thần tìm dịp tiện tác họa ở cõi người; sám hối những tội báo bị các thứ ác điểu bay đến kêu lên trăm điều quái gở, gặp tà quỷ phi thi làm các yêu dị, ở cõi người; sám hối các tội báo bị các loài cầm thú dữ sài lang, hổ báo làm hại, ở cõi người; sám hối các tội báo tự đâm tự giết, ở cõi người; sám hối những tội báo tự lao mình xuống sông hố sâu hầm lửa, nhảy xuống sông hay gieo mình từ trên cao xuống, ở cõi người; sám hối những tội báo không có uy đức tiếng tăm, ở cõi người; sám hối những tội báo thiếu thốn, tiêu dùng ăn mặc không được vừa lòng, ở cõi người; sám hối những tội báo ra vào, đi lại hay làm việc gì cũng khó khăn hoặc bị người khác cản trở, ở cõi người. Những tai họa bất trắc, những bệnh truyền nhiễm, những ách nạn suy não trong đời hiện tại, vị lai, trong cõi nhân thiên, nhiều không thể kể xiết như thế, ngày nay chúng con chí thành hướng về mười phương chư Phật, Tôn Pháp, Thánh chúng cầu xin sám hối, nguyện đều tiêu diệt.

Trước đã sám hối tất cả phiền não chướng và nghiệp của sáu căn, ba nghiệp, tất cả quả báo chướng trong sáu nẻo bốn loài, nay chúng con xin theo thứ lớp phát nguyện hồi hướng.

Chúng con… nguyện đem công đức sám hối ba món chướng kia, hồi hướng cho tất cả chúng sinh cũng đều cùng nhau sám hối; nguyện cùng tất cả chúng sinh trong đời hiện tại thân tâm được yên vui, ba tai, tám nạn các việc chẳng lành đều tiêu trừ hết thảy, sự ăn mặc được dư dật đầy đủ, chính tín Tam Bảo; xả báo thân này, vãng sinh về cõi Cực Lạc, gần gũi đức Phật Di Đà, được thụ ký để qua đời sau gặp Phật Di Lặc, nghe hiểu chính Pháp, theo đó tu hành. Nguyện đời đời kiếp kiếp bất cứ sinh ở chỗ nào, thường gặp các vị quốc vương, trùng hưng Tam Bảo, không bị sinh vào nhà ngoại đạo tà kiến. Chúng con lại nguyện đời đời kiếp kiếp bất cứ ở nơi nào, cũng do hoa sen hóa sinh, thuộc dòng giống cao quí, được yên ổn, vui sướng món ăn thức mặc tự nhiên có sẵn. Chúng con lại nguyện đời đời kiếp kiếp bất cứ ở chỗ nào, cũng có sẵn lòng nhân từ trung hiếu, đem tâm bình đẳng cứu giúp chúng sinh, không khởi niệm nghịch hại. Lại nguyện đời đời kiếp kiếp bất cứ sinh ở chỗ nào, cũng thường được chư Phật hộ niệm, thường hàng phục được ma oán và các thứ ngoại đạo, được ở chung một chỗ với các bậc Bồ Tát, một lòng theo đạo Bồ Đề không khi nào đứt đoạn. Lại nguyện đời đời kiếp kiếp bất cứ sinh ở chỗ nào cũng nêu tỏ Phật, Pháp, tu theo giáo lý Đại thừa; phân thân vô số để cứu độ chúng sinh, thẳng tiến đến đạo tràng (thành Phật) không khi nào thoái chuyển.

Chư Phật Bồ Tát đã phát lời thệ nguyện tu hành phúc trí và hồi hướng, chúng con cũng xin phát nguyện tu tập phúc trí và hồi hướng như vậy.
Cõi hư không có thể cùng tận, cõi chúng sinh có thể cùng tận, nghiệp báo của chúng sinh có thể hết, phiền não của chúng sinh có thể diệt, nhưng sự tu hành hồi hướng của chúng con không bao giờ cùng tận.

Phát nguyện và hồi hướng xong, xin hết lòng kính lễ Thường Trụ Tam Bảo.

HẾT QUYỂN HẠ

Tội do tâm sinh do tâm diệt
Tâm đã diệt tội cũng không còn
Tội hết tâm không hai vẳng lặng
Như thế mới là chân sám hối
Nam mô cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)

KINH TÁM ĐIỀU GIÁC NGỘ CỦA BẬC ĐẠI NHÂN
Là người đệ tử Phật, ngày đêm nên chí tâm, nhớ nghĩ và tư duy, về tám điều giác ngộ, của các bậc Đại nhân.
ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ NHẤT
Thế gian vốn vô thường, cõi nước rất mong manh, bốn đại lại khổ không, năm ấm là vô ngã, luôn sinh diệt biến đổi, giả dối không có chủ, tâm là nguồn việc ác, thân là rừng nghiệp tội, nếu quán sát như thế, dần dần lìa sinh tử. (1 chuông)

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ HAI
Tham muốn nhiều là khổ, bao sinh tử nhọc nhằn, đều từ tham dục khởi, nếu ít muốn biết đủ, thân tâm được tự tại. (1 chuông)

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ BA
Tâm nếu không biết đủ, chỉ lo việc tham cầu, sẽ tăng thêm tội ác, Bồ Tát không như vậy, thường nhớ đến tri túc, vui cảnh nghèo giữ đạo, lấy tuệ làm sự nghiệp. (1 chuông)

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ TƯ
Lười biếng phải sa đọa, nên thường hành tinh tấn, để phá phiền não ác, chiết phục cả bốn ma, ra khỏi ngục ấm giới. (1 chuông)

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ NĂM
Ngu si phải sinh tử, nên Bồ tát thường nhớ, luôn học rộng nghe nhiều, để tăng trưởng trí tuệ, và thành tựu biện tài, rồi đem niềm vui lớn, giáo hóa cho tất cả. (1 chuông)

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ SÁU
Nghèo khổ hay oán hờn, thường kết nhiều duyên ác, Bồ Tát hành bố thí, bình đẳng với oán thân, không nhớ đến lỗi cũ, không ghét bỏ người ác. (1 chuông)

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ BẢY
Năm dục là tai họa, thân dẫu ở cõi tục, nhưng không nhiễm dục lạc, thường nhớ nghĩ ba y, bình bát và pháp khí, chí nguyện người xuất gia, luôn giữ đạo trong sạch, thực hành hạnh thanh tịnh, từ bi với tất cả.  (1 chuông)

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ TÁM
Sinh tử luôn thiêu đốt, khổ não thật vô biên, nên phát tâm Bồ Đề, tu hành cầu Thánh đạo, cứu độ khắp tất cả, nguyện thay thế chúng sinh, gánh chịu vô lượng khổ, khiến cho tất cả loài, đều được đại an lạc. (1 chuông)

Tám điều nói trên đây, chư Phật và Bồ tát, đã tự mình giác ngộ, và tinh tấn hành đạo, tu từ bi trí tuệ, nương theo thuyền Pháp thân, đến nơi bờ Niết Bàn, rồi trở lại sinh tử, độ thoát các chúng sinh, cũng đem tám điều này, chỉ dạy cho tất cả, khiến mọi loài chúng sinh, biết được sinh tử khổ, xa lìa năm món dục, tu tâm theo Thánh đạo. Nếu người đệ tử Phật, tư duy tám điều này, sẽ ở trong mỗi niệm, diệt được vô lượng tội, thẳng tiến đến Bồ Đề, mau thành tựu Chính Giác, dứt hẳn đường sinh tử, thường an trú tịnh lạc. (1 chuông)
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (3 chuông)

PHÁT NGUYỆN BỒ ĐỀ
(Quỳ gối chắp tay phát nguyện ba lần sau đó lễ 1 lễ)
Đệ tử chúng con nương pháp Lục hòa chí thành phát nguyện:
“Phát tâm Bồ Đề
Hộ trì Tam Bảo
Chuyển tải Phật Pháp
Rộng khắp thế gian.” (3 lần) (3 chuông)

MƯỜI HẠNH PHỔ HIỀN
(Quỳ gối chắp tay)
Đệ tử chúng con tùy thuận tu tập mười nguyện lớn của đức Phổ Hiền Bồ Tát:
Một là kính lễ chư Phật
Hai là xưng tán Như Lai
Ba là rộng tu cúng dường
Bốn là sám hối nghiệp chướng
Năm là tùy hỷ công đức
Sáu là thỉnh Phật chuyển Pháp
Bảy là thỉnh Phật trụ thế
Tám là thường theo học Phật
Chín là hằng thuận chúng sinh
Mười là hồi hướng khắp tất cả (3 chuông)

PHỤC NGUYỆN
(Chủ sám)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
Con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con; chư Thiên, Thiện Thần, Hộ Pháp hoan hỉ ủng hộ cho chúng con. Chúng con biết rằng chỉ có phát khởi đại tâm cầu vô thượng Bồ Đề thành tựu Phật quả, mới làm lợi ích cho mình và cho chúng sinh, nay chúng con xin hồi hướng công đức này về vô thượng Bồ Đề. Đời nào kiếp nào sinh ra chúng con cũng gặp được các bậc thiện tri thức, giúp cho thực hành các công hạnh Bồ Đề cho tới ngày thành Phật.
Đệ tử chúng con xin hồi hướng nguyện công đức tụng kinh sám hối trong buổi lễ hôm nay cho con (và tên người cần hồi hướng)… được (đọc mong cầu)…
Chúng con cũng hồi hướng nguyện cầu cho tất cả các chúng chư Thiên, chư Thần Linh, chư vong linh mà đã về đây tham dự pháp hội sám hối này, được kết duyên pháp lữ với chúng con, đời đời kiếp kiếp trợ duyên cho nhau tu hành cho tới ngày thành Phật. Con lại hướng nguyện xin cho tất cả gia đình (đọc tên) được sức khỏe, thọ mạng, công việc hanh thông, gia đình hạnh phúc (đọc thêm các mong cầu)… và đủ duyên giác ngộ Phật Pháp, cùng với con tinh tấn tu hành theo chính Pháp của Phật, cho tới ngày liễu thoát luân hồi sinh tử.
Chúng con hướng nguyện cầu chính Pháp của Phật được tuyên dương, chúng sinh được lợi lạc.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

HỒI HƯỚNG
Công phu công đức có bao nhiêu,
Con xin lấy đó hồi hướng về,
Nguyện khắp pháp giới các chúng sinh, Thảy đều thể nhập vô sinh nhẫn. (1 chuông)
Nguyện tiêu ba chướng sạch phiền não,
Nguyện được trí tuệ thật sáng ngời,
Nguyện các tội chướng thảy tiêu trừ,
Đời đời thường hành Bồ Tát đạo. (1 chuông)
Nguyện đem công đức tu hành này,
Chan rải mười phương khắp tất cả,
Hết thảy chúng con cùng các loài,
Đồng được lên ngôi Vô Thượng Giác. (3 chuông)

TAM TỰ QUY
Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng. (1 chuông) (1 lễ)
Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 chuông) (1 lễ)
Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại. (1 chuông) (1 lễ)

HẾT!

46 lượt xem
07/02/2021

Bình luận