Giới thiệu về Website

Trang web phamthiyen.com là nơi đăng tải những bài viết, video hướng dẫn cách áp dụng Phật Pháp: giáo lý nhân quả và tâm linh vào cuộc sống bằng phương pháp tâm linh của đạo Phật.

Phạm Thị Yến

Nghi thức tu tập 49 ngày lần 2 – Tuần 4 – Ngày 1 (Bài 8)

Ngày 1: Tụng Kinh
Sắp lễ: Trước mỗi bát hương, đặt lễ một bát cơm, một cốc nước chè, nếu không có nước chè thì cúng bằng nước trắng.
(Cắm hương xong, quỳ gối, chắp tay khấn)

VĂN KHẤN

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con; chư vị Hộ Pháp, Thiện Thần, Thần Linh ủng hộ cho chúng con. Đệ tử con tên là:… Pháp danh:… Hiện đang ở tại:… hôm nay là ngày…… tháng…… năm….… Con theo chương trình hướng dẫn của chùa Ba Vàng, để hồi hướng chuyển hoá nghiệp (đọc nghiệp: thất thoát tài sản, con bất hiếu, chơi với bạn ác….)……….. Con xin nương oai lực Tam Bảo, hạnh nguyện độ sinh và độ cho vong linh của chư Tăng chùa Ba Vàng thỉnh mời tất cả chư vị vong linh (đọc vong linh mà mình muốn mời, nếu có việc phát sinh thêm, thì đọc thêm: nay gia đình con mới phát sinh thêm nghiệp…. nên con xin thỉnh mời thêm các vong linh có hữu duyên với việc này: Oan gia trái chủ tác động qua hiện tượng….; vong linh…):…… hoan hỉ về tại đàn tràng nghe kinh thính pháp và thọ lễ vật thực hiến cúng của chúng con. Chúng con xin nhất tâm cung thỉnh chư Thiên, chư Thần cùng các vong linh mà chúng con đã mời, cùng với chúng con nghe kinh.

LỄ TÁN PHẬT
Đại từ đại bi thương chúng sinh,
Đại hỷ đại xả cứu hàm thức,
Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm.
Chúng con chí tâm thành đảnh lễ.

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Chính Pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

TÁN PHÁP
Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,
Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.
Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,
Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn.
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (3 lần)

(Ngồi đọc kinh)

BÀI KINH: HÀNG MA
(Kinh Tạng Nam Truyền, Trung Bộ Kinh 1, Phẩm Tiểu Song Đối, Kinh Hàng Ma, tr.580)

Như vầy tôi nghe. Một thời Tôn giả Mục Kiều Liên (Mahāmoggallān) trú giữa dân chúng Bát-ga (Bahgga), tại Sum-su-ma-ra-gi-ra (Sumsumāragira), rừng Hê-sa-ka-la-va-na (Bhessakalāvana), vườn Lộc Uyển. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mục Kiều Liên đang đi kinh hành ngoài trời.

Khi ấy Ác ma đi vào bụng Tôn giả Mục Kiều Liên, ở trong bao tử. Rồi Tôn giả Mục Kiều Liên nghĩ như sau: “Nay sao bụng của ta lại nặng nặng như có gì chồng chất quá đầy?” Rồi Tôn giả Mục Kiều Liên từ chỗ kinh hành bước xuống, đi vào tự viện, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.

Sau khi ngồi, Tôn giả Mục Kiều Liên tự chánh niệm. Tôn giả Mục Kiều Liên thấy Ác ma, sau khi đi vào trong bụng, đang ở trong bao tử. Thấy vậy, Tôn giả liền nói với Ác ma:
– Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!

Rồi Ác ma suy nghĩ: “Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: “Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiều Như Lai, và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.” Chính vị Bổn sư cũng chưa biết ta mau như vậy, làm sao vị để tử này có thể biết ta được?”

Rồi Tôn giả Mục Kiền Liên lại nói với Ác ma như sau:
– Này Ác ma, ta biết ngươi. Đừng có nghĩ rằng: “Vị ấy không biết ta.” Ngươi là Ác ma. Này Ác ma, ngươi nghĩ như sau: “Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: “Hãy đi ra,

Ác ma! hãy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!” Chính vị Bổn sư cũng không biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?”

Rồi Ác ma suy nghĩ như sau: “Vị Sa-môn này biết ta, thấy ta và nói như sau: “Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.”

Rồi Ác ma từ miệng Tôn giả Mục Kiền Liên bước ra, và đứng dựa nơi cửa miệng. Tôn giả Mục Kiền Liên thấy Ác ma đứng dựa nơi cửa miệng, bèn nói Ác ma:
– Ác ma, ở đây, ta cũng thấy Ngươi. Ngươi chớ có nghĩ rằng: “Vị ấy không thấy ta”. Này Ác ma, nay Ngươi đang đứng dựa nơi cửa miệng.

Này Ác ma, thuở xưa, ta là Ác ma tên là Du-si, và chị ta tên là Ka-li. Ngươi là con trai chị ta. Như vậy Ngươi là cháu ta. Này Ác ma, lúc bấy giờ, Thế Tôn Ka-ku-san-ha (Kakusandha), bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ra đời. Thế Tôn Ka-ku-san-ha, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác có hai vị đệ tử tên là Vi-hu-ra (Vidhura), và San-di-va (Sanjiva), hai bậc tối thượng, hai bậc Hiền giả. Này Ác ma, đối với các vị đệ tử của Thế Tôn Ka-ku-san-ha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác không một ai ở đây có thể bằng Tôn giả Vi-hu-ra về thuyết pháp. Này Ác ma, vì lý do này, Tôn giả Vi-hu-ra được gọi là Vô Song (Vidhura). Còn Tôn giả San-di-va là vị đi rừng, đi gốc cây, đi các chỗ không người và chứng Diệt thọ tưởng định không khó khăn gì.

Này Ác ma, thuở xưa, Tôn giả San-di-va đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây. Này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả San-di-va đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây, thấy vậy liền nói với nhau như sau: “Thật vi diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi. Chúng ta hãy hỏa táng Ngài!” Rồi này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành liền thâu lượm cỏ, củi và phân bò chồng lên thân Tôn giả San-di-va, đốt lửa và bỏ đi.

Này Ác ma, Tôn giả San-di-va, sau khi đêm ấy đã tàn, liền xuất định, phủi áo, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát vào làng khất thực. Này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả San-di-va đang đi khất thực, thấy vậy liền nghĩ: “Thật vi diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi, nay được sống lại”.

Này Ác ma, vì lý do này, Tôn giả San-di-va được xưng danh là San-di-va.

Này Ác ma, rồi Ác ma Du-si nghĩ như sau: “Ta không biết chỗ đến và chỗ đi của các vị Tỳ-kheo có giới hạnh và thiện pháp này. Vậy nay ta hãy nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: “Hãy đến phỉ báng, mạ lỵ, thống trách và nhiễu hại các vị Tỳ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lỵ, thống trách và nhiễu hại bởi các người, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Du-si mới có dịp để chi phối họ.”

Rồi này Ác ma, Ác ma Du-si nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và phỉ báng, mạ lỵ, thống trách và nhiễu hại các vị Tỳ-kheo có giới hạnh và thiện tánh như sau: “Những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này.

Họ nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền” và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con cú đậu trên cành cây, khi đang rình chuột; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này.

Chúng nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền”. Và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con giả can trên bờ sông, khi đang rình cá; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này.

Họ nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền” dại thiền và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con mèo ngồi bên đống rác, khi đang rình chuột; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền”; cũng vậy, những kẻ trọc đầu Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này.

Họ nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền” và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con lừa, gánh nặng được đặt xuống, đang tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền”; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này.

Chúng nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền”, và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền”. Này Ác ma lúc bấy giờ, phần lớn những người ấy sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Rồi này Ác ma, Thế Tôn Ka-ku-san-ha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác gọi các Tỳ-kheo:
“– Này các Tỳ-kheo, những Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Du-si nhập vào và nói: “Hãy đến phỉ báng, mạ lỵ, thống trách và nhiễu hại các Tỳ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lụy, thống trách và nhiễu hại bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Du-si mới có dịp để chi phối họ”.

Này các Tỳ-kheo, hãy đến biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, rồi an trú, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân; biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi…; biến mãn một phương với tâm câu hữu với hỷ…; biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư.

Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân”.

Rồi Ác ma, các Tỳ-kheo ấy được Thế Tôn Ka-ku-san-ha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác khuyến khích như vậy, khuyến giáo như vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến các chỗ không vắng, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân; biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi…; biến mãn một phương với tâm câu hữu với hỷ…; biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

Này Ác ma, rồi Ma-ra Du-si suy nghĩ như sau: “Làm như vậy, ta không thể biết chỗ đến hay chỗ đi của các Tỳ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Vậy ta hãy nhập vào các Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: “Hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ cúng dường các Tỳ-kheo có giới hạnh và thiện tánh này. Do được tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Du-si mới có dịp để chi phối họ”.

Rồi này Ác ma, Ác ma Du-si nhập vào các Bà-la-môn gia chủ và nói: “Hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỳ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Ngươi tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Du-si mới có dịp để chi phối họ”. Rồi này Ác ma, những Bà-la-môn gia chủ, bị Ác ma Du-si xâm nhập, tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỳ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Này Ác ma, sau một thời gian những vị này mạng chung và phần lớn sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới và đời này.

Rồi này Ác ma, Thế Tôn Ka-ku-san-ha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác gọi các Tỳ-kheo:
“– Này các Tỳ-kheo, các Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Du-si xâm nhập và nói như sau: “Các Ngươi hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỳ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Ngươi tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm và như vậy Ác ma Du-si mới có dịp để chi phối họ”. Này các Tỳ-kheo, các Ngươi hãy sống quán bất tịnh trên thân, quán tưởng nhàm chán đối với các món ăn, quán tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành”.

Và này Ác ma, những Tỳ-kheo ấy được Thế Tôn Ka-ku-san-ha khuyến khích như vậy, khuyến giáo như vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến các chỗ trống vắng, sống quán tánh bất tịnh trên thân, quán tưởng nhàm chán đối với các món ăn, quán tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành.

Rồi này Ác ma, Thế Tôn Ka-ku-san-ha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, buổi sáng đắp y, mang y bát, với Tôn giả Vi-hu-ra là thị giả, đi vào làng để khất thực. Rồi này Ác ma, Ác ma Du-si nhập vào một đứa trẻ, cầm một hòn đá, đánh trên đầu Tôn giả Vi-hu-ra khiến bể đầu. Rồi này Ác ma, Tôn giả Vi-hu-ra với đầu bị bể và với máu chảy, vẫn đi sau lưng Thế Tôn Ka-ku-san-ha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.

Rồi này Ác ma, Thế Tôn Ka-ku-san-ha bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác nhìn xung quanh với cái nhìn con voi chúa và suy nghĩ như sau: “Thật vậy, Ác ma Du-si không biết sự vừa phải”.
Này Ác ma, khi Thế Tôn nhìn xung quanh, thì Ác ma Du-si liền từ chỗ ấy từ trần và sinh vào cõi địa ngục. Này Ác ma, địa ngục ấy được ba tên gọi: Sáu xúc xứ địa ngục, Thiết qua địa ngục, Biệt thọ khổ địa ngục. Rồi các người giữ địa ngục đến ta và nói như sau: “Này Tôn giả, khi cọc sắt sẽ gặp cọc sắt trong tim của Ngươi, Ngươi mới hiểu như sau: “Ta sẽ bị trụng nước sôi một ngàn năm ở địa ngục.”

Và ta, này Ác ma, ta bị trụng nước sôi, trải nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trong địa ngục. Trải qua một vạn năm trong đại địa ngục ấy, ta bị nấu sôi và cảm thọ cảm giác gọi là Vút-tha-ni-ma. Do vậy, này Ác ma, thân của ta là như vậy, thân như con người, và đầu ta là như vậy, đầu như con cá.

1. Địa ngục ấy thế nào,
Du-si bị nấu sôi,
Vì đánh Vi-hu-ra,
Đệ tử Ka-ku-san-ha.
2. Có trăm loại cọc sắt,
Tự cảm thọ riêng biệt,
Địa ngục là như vậy,
Du-si bị nấu sôi,
Vì đánh Vi-hu-ra,
Đệ tử Ka-ku-san-ha.
3. Tỳ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy,
Vì ngươi đánh Tỳ-kheo,
Kan-ha chịu khổ thọ!
4. Dựng lên giữa biển cả,
Cung điện trải nhiều kiếp,
Bằng ngọc chói lưu ly,
Huy hoàng cùng chiếu diệu,
Tiên nữ múa tại đây,
Trang sức màu dị biệt.
5. Tỳ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy,
Vì ngươi đánh Tỳ-kheo,
Kan-ha chịu khổ thọ!
6. Ai Thế Tôn khuyến khích,
Được chư Tăng chứng kiến,
Với ngón chân rung chuyển,
Lâu đài Mi-ga-ra!
7. Tỳ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy,
Vì ngươi đánh Tỳ-kheo,
Kan-ha chịu khổ thọ!
8. Với ngón chân rung chuyển,
Lâu đài Vê-day-an-ta,
Đầy đủ thần thông lực,
Chư Thiên cũng hoảng sợ.
9. Tỳ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy,
Vì Ngươi đánh Tỳ-kheo,
Kan-ha chịu khổ thọ!
10. Ai hỏi vị Đế Thích (Sakka),
Tại Vê-day-an-ta,
Hiền giả, người có biết,
Chứng ái tận giải thoát?
Đế Thích đã chân thành,
Trả lời câu được hỏi.
11. Tỳ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy,
Vì ngươi đánh Tỳ-kheo,
Kan-ha chịu khổ thọ!
12. Ai từng hỏi Phạm Thiên,
Tại hội chúng Thiện pháp:
“Hiền giả nay vẫn chấp,
Các tà kiến thuở xưa,
Có thấy cảnh huy hoàng,
Phạm Thiên, cảnh Thiên giới?”
13. Phạm Thiên đã chân thành,
Tiếp tục đáp câu hỏi:
“Tôn giả, tôi không chấp,
Các tà kiến thuở xưa!
14. Tôi thấy sự huy hoàng,
Phạm Thiên, cảnh Thiên giới,
Sao nay tôi nói được,
Tôi thường hằng thường tại?”
15. Tỳ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy,
Vì ngươi đánh Tỳ-kheo,
Kan-ha chịu khổ thọ!
16. Ai với sự giải thoát,
Cảm xúc Cao sơn đảnh,
Rừng Đông Vi-đê-ha,
Và người nằm trên đất.
17. Tỳ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy,
Vì ngươi đánh Tỳ-kheo,
Kan-ha chịu khổ thọ!
18. Thật sự lửa không nghĩ:
“Ta đốt cháy kẻ ngu”,
Kẻ ngu đột kích lửa,
Tự mình bị thiêu cháy.
19. Cũng vậy, này Ác ma,
Ngươi đột kích Như Lai,
Tự mình đốt cháy mình,
Như kẻ ngu chạm lửa.
20. Ác ma tạo ác nghiệp,
Do nhiễu hại Như Lai,
Ngươi nghĩ chăng, Ác ma,
“Ác quả không đến ta”.
21. Điều ác Ác ma làm,
Chất chứa đã lâu rồi,
Ác ma, hãy tránh Phật,
Chớ vọng tưởng Tỳ-kheo!
22. Tỳ-kheo chống Ác ma,
Tại rừng Bê-sa-ka-la,
Vị Dạ xoa, thất vọng,
Biến mất tại chỗ ấy.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

MƯỜI HẠNH PHỔ HIỀN
Đệ tử chúng con tùy thuận tu tập mười nguyện lớn của đức Phổ Hiền Bồ Tát:
Một là kính lễ chư Phật
Hai là xưng tán Như Lai
Ba là rộng tu cúng dường
Bốn là sám hối nghiệp chướng
Năm là tùy hỷ công đức
Sáu là thỉnh Phật chuyển Pháp
Bảy là thỉnh Phật trụ thế
Tám là thường theo học Phật
Chín là hằng thuận chúng sinh
Mười là hồi hướng khắp tất cả.

(Quỳ gối chắp tay khấn)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Chúng con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh, chư Hộ Pháp, chư Thiên, chư Thần Linh chứng giám, chư vong linh hoan hỷ, hôm nay gia đình chúng con thành tâm nương đức chư Tăng chùa Ba Vàng, tu tập hồi hướng công đức để chuyển nghiệp….., chúng con có sắm sửa vật thực, dâng lên cúng dường:
Thượng: Chúng con xin dâng lên cúng dường thập phương chư Phật chứng minh.
Trung: Chúng con xin phụng cúng chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh.
Hạ: Chúng con xin cúng dường cho chư Thiên, chư Thần Linh, Thổ Địa tại nơi đây.
Sau: Chúng con xin được nương oai lực Phật, hiến cúng cho tất cả các vong linh đã thỉnh mời. Nguyện cho các vong linh được nương sự bố thí trong đàn lễ cúng này của con mà được thọ thực no đủ.
(Đọc Biến thủy, Biến thực)

Chú biến thực: Nam mô tát phạ đát tha, nga đá phả rô chỉ đế, ám tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (7 lần)
Chú biến thủy: Nam mô tô rô bà ra, đát tha nga đá ra, đát điệt tha, án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha. (7 lần)
Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng. (7 lần)

(Nếu có việc mới phát sinh, mà phát tâm cúng dường Tam Bảo về chùa, hoặc cúng dường thêm để hồi hướng cho các mục cũ thì đọc tiếp, nếu không cúng dường thì không đọc phần in đậm:
Hôm nay chúng con xin thành tâm cúng dường hộ trì Tam Bảo, với số tiền là..… để hưởng phúc lành từ nơi tu tập của chư Tăng tại chùa…… (nếu tại chùa Ba Vàng thì đọc: Chùa Ba Vàng, Phường Quang Trung, Tp Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh) với tâm nguyện cho chư Tăng được tứ sự như ý phù hợp với việc tu tập để hồi hướng công đức cúng dường của chúng con đến các vong linh có duyên trên việc mới phát sinh (đọc sự việc):…..))

PHỤC NGUYỆN

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con; chư Thiên, Thiện Thần, Hộ Pháp hoan hỉ ủng hộ cho chúng con. Đệ tử con xin nguyện đem công đức tu hành và cúng dường Tam Bảo, hồi hướng cho các vong linh, mong nguyện các vong linh được về chùa Ba Vàng, nghe học Phật Pháp sớm được giác ngộ giải thoát. Chúng con cũng nguyện cầu cho tất cả các chúng chư Thiên, chư Thần Linh, chư vong linh mà chúng con hiến cúng, được kết duyên pháp lữ với chúng con, đời đời kiếp kiếp trợ duyên cho nhau tu hành cho tới ngày thành Phật. Chúng con cũng xin hồi hướng phúc lành đến cho (tên, việc mà mình mong cầu)…… Chúng con lại nguyện cho tất cả gia đình, được đủ duyên giác ngộ Phật Pháp, để cùng nhau tinh tấn tu hành theo Chính Pháp của Phật, cho tới ngày liễu thoát luân hồi sinh tử. Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

TAM TỰ QUY
Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng. (1 lễ)
Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lễ)
Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại. (1 lễ)

–HẾT NGÀY 1–

>>> Nghi thức tu tập 49 ngày lần 2 – Tuần 4 – Ngày 2 (Bài 8)

54 lượt xem
11/08/2020

Bình luận