Giới thiệu về Website

Trang web phamthiyen.com là nơi đăng tải những bài viết, video hướng dẫn cách áp dụng Phật Pháp: giáo lý nhân quả và tâm linh vào cuộc sống bằng phương pháp tâm linh của đạo Phật.

Phạm Thị Yến

Pháp nghĩa là gì?

Tư Vấn Tâm LinhPháp nghĩa là gì?
31/08/2018

Con kính bạch cô Phạm Thị Yến, con có một thắc mắc kính mong cô giải đáp cho con được hiểu ạ.

Phật tử Phạm Thị Yến trả lời thắc mắc,

2 Answers
31/08/2018

Chào bạn, cô Phạm Thị Yến đã từng trả lời câu hỏi này, giờ Ban Quản Trị xin chia sẻ lại câu trả lời của cô Yến tới bạn như sau:
"PHÁP LÀ PHƯƠNG TIỆN DẪN DẮT CHÚNG SINH ĐẾN BỜ GIÁC NGỘ
A. Tính năng phương tiện trong các pháp:
Phương tiện:có tính chất chuyển tải.
Pháp: gồm có pháp hữu vi và pháp vô vi.

  • Pháp hữu vi: có hình tướng thuộc về tứ đại mang tính chất của sinh, diệt chịu sự chi phối của vô thường, trần cảnh.
  • Pháp vô vi: không có hình tướng thuộc phạm vi của tâm và trí. Pháp vô vi mang tính chất vô ngã, vô thường, khổ, không.
  • Pháp là Phương tiện vì có tính năng chuyển tảiVí dụ về tính năng phương tiện của pháp hữu vi:
  • Phương tiện để chuyển tải nội dung một vở kịch: đài, ti vi, giấy viết,… mục đích là di chuyển nội dung vở kịch đi nhiều nơi. Đài, ti vi, giấy,… thuộc pháp hữu vi.Tính năng phương tiện của pháp vô vi:
  • Tâm, trí di chuyển trong lục đạo luân hồi (nghiệp)
  • Tâm, trí tự thay đổi khi có sự tác động khiến tâm thiện chuyển thành tâm ác, tâm ác chuyển thành tâm thiện, tâm ác ít chuyển thành tâm ác nhiều, tâm thiện ít chuyển thành tâm thiện nhiều, tà trí chuyển thành chánh trí, chánh trí chuyển thành tà trí (từ sáng đi vào tối, từ tối…)
  • Tương quan giữa pháp hữu vi và pháp vô vi:
  • Tứ đại của Người, chúng sinh trong lục đạo thuộc pháp hữu vi chứa đựng tâm trí (nghiệp) thuộc pháp vô vi (tự thân)
  • Tâm trí chính hoặc tà của người này tương tác với tâm trí chính hoặc tà của người kia khiến người này hoặc người kia chuyển hoá thành chính hoặc tà ngược lại với lúc đầu hoặc không chuyển hoá nhưng vẫn di chuyển sang nhau bằng sự nhận biết (ngoại cảnh)"Các pháp thuộc hữu vi là phương tiện chứa đựng các pháp thuộc vô vi"

B. PHÁP LÀ PHƯƠNG TIỆN DẪN DẮT CHÚNG SINH ĐẾN BỜ GIÁC NGỘ

  • ĐỨC PHẬT khi độ sinh Ngài đã thị hiện rất nhiều hoá thân: thần, người ăn cướp, cô gái… phù hợp với căn tính tiếp nhận mỗi người để độ cho người đó khiến được giác ngộ (đồng sự nhiếp). Hoá thân là pháp hữu vi, nội dung lời dạy của Chư Phật là pháp vô vi thuộc chính tâm, chính trí. Hoá thân có thay đổi nhưng tính chất của pháp mà các hoá thân thuyết ra là chính trí, chính tâm, giải thoát thì không thay đổi.

Khi ĐỨC PHẬT thị hiện hoá thân: cướp hình trạng giống hệt cướp, thần hình trạng giống hệt thần, cô gái đẹp hình dáng giống hệt cô gái đẹp… Để chuyển tải Chính Pháp khiến chúng sinh tăng trưởng chính tâm chính trí, giác ngộ thực hành thoát khổ.

  • Người ăn cướp thật sẽ làm việc ăn cướp, vị thần sẽ làm việc của vị thần, cô gái làm các việc theo duyên nghiệp của cô gái đó, khiến tăng trưởng tà tâm tà trí.
  • Cũng như vậy:
  • Gọi dí, gọi hồn là tính năng tương tác của pháp hữu vi và vô vi theo duyên nghiệp: tà trí, tà tâm giữa cô đồng với vong linh ngã quỷ và các tín chủ hiện tại đó khiến tất cả tăng thêm tà tâm tà trí.
  • Thỉnh oan gia trái chủ cũng là tính tương tác giữa pháp hữu vi và vô vi theo duyên nghiệp: chính trí, chính tâm, chính pháp (TỨ DIỆU ĐẾ), giữa Chư Tăng, Phật tử với tín chủ và các cõi khác có hữu duyên khiến tất cả đều được giác ngộ thực hành theo sẽ giải thoát khổ.

ĐỨC PHẬT DẠY: "Y pháp bất y nhân, y nghĩa bất y ngữ, y tánh bất y tướng". "Đối với những điều chưa được nghe, chưa thật biết rõ nên dùng tâm định tỉnh để lắng nghe và tư duy chưa vội phán quyết", chúng ta lúc tu hành cần phải nhớ.
Các việc nêu trong hình chụp trên còn phải xét vào nhiều nhân duyên nữa vì chúng thuộc pháp hữu vi. Ví dụ đối với người đã có lòng tin với việc ngày giờ tốt xấu, thì bước đầu phải tuỳ duyên để dẫn pháp lâu dần kiên trì tạo duyên giáo hoá để họ thực hành, sau khi thấy đúng họ sẽ có chính kiến".
Chúc bạn luôn sống an lạc và hạnh phúc trên con đường tu học Phật Pháp.

31/08/2018

“Xin cảm tạ. Điểm cần bàn đầu tiên là hình đính kèm ghi rõ: “tri kiến cho rằng việc kết hợp pháp thực hành ngoại đạo ….” Không sai! Vấn đề ở chỗ làm sao một người với hiểu biết/căn cơ trung/thấp tự mình có thể nhận ra đâu là “tà pháp” đâu là “chánh pháp”? Chưa kể các phương tiện tu tập rất tùy duyên, cảnh, động lực… Vi dụ: cùng 1 hành vi cảnh và duyên, chỉ cần khác động lực của người tiến hành đã khiến hành vi đó trở thành “bất chánh” hay ngược lại. Vậy có lẽ hình cắt và dán kiểu này sẽ khiến người đọc gặp trở ngại để hiểu rõ?
Thứ hai, một câu hỏi: nội dung bài viết có nói đến mệnh đề “y tánh bất y tướng” — lấy từ kinh nào? Theo như lời Phật dạy về “Tứ Pháp Y” bao gồm (có trong Duy-ma-cật Kinh và Đại Bát-niết-bàn Kinh):
1. Y pháp bất y nhân
2. Y nghĩa bất y ngữ
3. Y trí bất y thức
4. Y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa
Để dựa vào đó mà tự kiểm phối/ đánh giá và theo các pháp được đúng đắn.
Ở đây, sao lại chỉ còn có 3 điều và điều 3 biến thành “y tánh bất y tướng”. Đây có phải Kinh/Luận Phật giáo? Nếu đúng Kinh Luận Phật giáo thì khi trích dẫn cần chỉ ra từ đâu mà có, kinh hay luận tên gì, do ai giảng ạ? Còn nếu đây chỉ là ý riêng thì xin ghi rõ đó là ý riêng của người viết. Xin chỉ giáo điểm này. Chân Thành Cảm Tạ. Kính chúc tỉnh thức.”

31/08/2018

Ban Quản Trị xin gửi tới bạn câu trả lời của cô Phạm Thị Yến:

Trong phần bình luận hỏi 4 ý hỏi:

  1. Hỏi: "Vấn đề ở chỗ làm sao một người với hiểu biết/căn cơ trung/thấp tự mình có thể nhận ra đâu là "tà pháp" đâu là "chánh pháp"? "

    a. Cách tu học Phật (căn cơ trung/thấp)

    • Xin các bạn trả lời câu hỏi: đầu bài và bài giải của học sinh cao học, làm thế nào cho cô giáo lớp mẫu giáo phân biệt được đâu là đúng và đâu là sai?
    • Ở đời học sinh sẽ tự biết mình phải học theo trình tự từ lớp một và thi đỗ lớp này mới được học lớp sau cao hơn. Chúng ta tư duy rộng ra mọi lĩnh vực: người tập ăn từ sữa…. đến xương, tập lẫy… đến chạy…, lĩnh vực học nghề: nhìn… đến nhận biết… đến sử dụng các dụng cụ…, đến tập làm… đến thạo đến giỏi… đến dạy lại.
    • Sai lầm của người tu Phật là học đọc nhiều hơn thực hành nên học những lời Phật dạy liên quan tới các hữu duyên trong hiện tại, phù hợp để thực hành sẽ mang tới kết quả giải thoát nghiệp, dẹp trừ phiền não.

      b. Nhận biết các sự việc ở thế gian (tự mình có thể nhận ra đâu là "tà pháp" đâu là "chánh pháp"?)

    • Các hạng người nghe và nói lại ở thế gian:
    • Nghe được rồi nói nguyên văn lại (rơi vào "chấp đoạn". Ví dụ: mẹ bạn Hoa nói với bạn Hoa là: mẹ có linh cảm là hôm nay bạn Lan chở con đi bằng xe máy sẽ bị ngã. Lúc đó bạn Lan sang chơi, mẹ bạn Hoa có việc phải đi liền nói: "Hoa không được đi cùng với bạn Lan đấy nhé!". Từ đấy về sau bạn Lan nói với tất cả mọi người rằng mẹ bạn Hoa nói: "Hoa không được đi cùng với bạn Lan đấy nhé!".
    • Nghe suy nghĩ theo sở học của mình rồi nói lại (rơi vào lý luận: nói nghĩa của câu trước đá nghĩa của câu sau)
    • Nghe rồi suy nghĩ theo nguyên lý của sự việc rồi nói lại (dễ rơi vào kiến thủ)
    • Nghe rồi suy nghĩ theo nguyên lý của sự việc, sau đó thực hành hoặc nhìn nhận chân thực thấy đúng mang nói lại (nếu không tư duy sẽ nói không đúng thời, Ví dụ: kiến thức nói ra không phù hợp với sự tiếp thu của người nghe)
    • Nghe để chọn lựa xem điều gì tốt nhất, đem đến lợi ích thiện lành phù hợp với mình, rồi suy nghĩ theo nguyên lý của sự việc, sau đó thực hành hoặc nhìn nhận chân thực thấy đúng, đem đến lợi ích cho mình và có lợi ích cho người mới nói (để tránh vọng ngữ và cộng nghiệp không tốt)
    • Cách nghe và nói nào đem lại uy tín, lợi ích cho bạn trong các lĩnh vực của cuộc sống và tu hành tiến đạo? Các cách từ nghe đến nói này thể hiện mức độ tu tập của chính mình.

      Muốn biết đúng sai phải học, tư duy, thực hành "Văn – Tư – Tu" theo "Giới". Hành giả tu Phật trước bất kỳ một vấn đề gì, phải xem xét sự việc để biết rõ, sau đó lấy giới để tư duy sẽ biết là "Chính" hay "Tà".

  2. Hỏi: "Vậy có lẽ hình cắt và dán kiểu này sẽ khiến người đọc gặp trở ngại để hiểu rõ?"

    • Kính thưa các bạn, người hỏi sẽ hỏi tất cả những gì khiến họ chưa hiểu.
    • Thập đại đệ tử của Phật thường xuyên giải quyết cho chúng sinh tất cả mọi thắc mắc (Ngài Ca Chiên Diên: nghị luận đệ nhất, ngài Tu Bồ Đề: giải không đệ nhất…)
    • Kính thưa các quý đạo hữu, những câu hỏi nào tôi chưa biết, tôi sẽ trả lời là tôi chưa biết.
  • Sử dụng "Trạch pháp giác chi" trong 37 phẩm trợ Bồ Đề, trong phần trả lời cho ý hỏi 3 và 4.
  1. "Đây có phải Kinh/Luận Phật giáo? Nếu đúng Kinh Luận Phật giáo thì khi trích dẫn cần chỉ ra từ đâu mà có, kinh hay luận tên gì, do ai giảng ạ?"

    Tôi lấy một ví dụ:

    • Phật dạy: giới "không được ăn cắp" trong tình huống: Bà dẫn cháu sang xóm chơi, cô hàng xóm cho cháu bé con búp bê lúc về cháu bé cầm thêm cái thìa về, bà của cháu bé liền bảo: PHẬT dạy lấy cái thìa là ăn cắp. Theo cách hỏi trên để đặt câu hỏi:
    • Câu nói của bà có đúng là Đức Phật nói không?
    • Câu nói này nếu là lời nói của Phật thì trích ở bộ kinh nào?

Nếu trả lời hai câu hỏi này theo ý người hỏi thì có trả lời được không?

Tôi trả lời rằng: bà đã nói đúng, Phật dạy như vậy, vì lời của bà biểu lộ được đúng nghĩa của giới "không được ăn cắp". Đó là "Y nghĩa bất y ngữ".

  1. Hỏi: "Ở đây, sao lại chỉ còn có 3 điều và điều 3 biến thành "y tánh bất y tướng". Đây có phải Kinh/Luận Phật giáo?

    • Kính thưa các bạn, trong câu trả lời số 46 tôi không nói là: "tứ y gồm có: … " không nói là: "y tánh bất y tướng: thuộc tứ y", mà tôi nói "ĐỨC PHẬT DẠY:"
    • Các cặp từ phạm trù tương đồng:

      "Ngữ – Nghĩa" – "Tánh – Tướng" – "Nội dung – Hình thức" – "Bản chất – Hiện tượng"…

Tôi sử dụng cặp từ có nghĩa tương đồng, vì câu hỏi liên quan tới tướng.

  • Theo một phần nghĩa thuộc kinh: Kim Cương, Bát Nhã" phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng", chúng ta không chấp vào tướng của các pháp mà căn cứ vào "bản thể" của các pháp cũng có nghĩa tương đồng là "tánh".

Tôi đưa một trong tứ y là "Y pháp bất y nhân", để người hỏi hiểu và không chấp điều được nghe do ai nói ra.

Xin tri ân công đức của bạn đã sách tấn tôi "tỉnh thức".

Kính xin các bạn hoan hỷ sách tấn cho tôi tu tập"

Bình luận